Dữ liệu Lịch sử


Thục Phán và Âu Lạc

đăng 17:15, 10 thg 1, 2012 bởi Tuan Doan Minh   [ đã cập nhật 21:47, 15 thg 1, 2012 ]


 

 

 Thục Phán và Âu Lạc



Theo các nguồn tư liệu thư tịch cổ của ta và của Trung Quốc phù hợp với những truyền thuyết dân gian phổ biến, thì tiếp theo sau nước Văn Lang đời Hùng Vương là nước Âu Lạc đời An Dương Vương.

(...)

Tuy nhiên, xung quanh lịch sử nước Âu Lạc (...) cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để, trước hết là vấn đề nguồn gốc Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc.

Những tài liệu xưa nhất trong thư tịch cổ của Trung Quốc (...) đều chép, An Dương Vương là “con vua Thục” (Thục Vương tử), nhưng không cho biết rõ xuất xứ của vua Thục, vị trí của nước Thục và cả tên của An Dương Vương.

Bộ sử xưa nhất của ta là Việt sử lược chỉ chép một câu về nguồn gốc của An Dương Vương: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay.” (...) Tác giả bộ sử này cho biết (...) An Dương Vương tên là Phán, nhưng cũng không nói rõ người ở đâu.

Từ thế kỷ XV, với Ðại Việt sử ký toàn thư  Lĩnh Nam chích quái thì An Dương Vương xuất hiện một cách rõ ràng trong sử sách: “họ Thục, tên Phán, người đất Ba Thục” (...) niên điểm thành lập nước Âu Lạc được xác định là năm Giáp Thìn, Chu Noãn Vương, thứ 58 (năm 257 tr. CN) (...) đến thế kỷ XIX, thuyết đó (...) bắt đầu bị hoài nghi hoặc phủ định.

Theo sử sách Trung Quốc thì nước Thục ở vùng Tứ Xuyên là một trong những nước thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Nước đó đã bị nước Tần tiêu diệt vào (...) năm 316 tr. CN (...) Vua Thục cuối cùng là Thục Khai Minh bị quân Tần giết chết ở Vũ Dương và thái tử con vua Thục cũng bị chết ở Bạch Lộc Sơn (...) Thế mà nước Âu Lạc, theo chính sử của ta, mãi đến năm 257 tr. CN mới thành lập. Vậy sau khi nước Thục bị diệt, “con vua Thục” tồn tại ở đâu và làm sao vượt qua hàng ngàn dặm núi rừng, đi qua địa bàn của nhiều nước (...) để (...) tiến đánh nước Văn Lang của Hùng Vương? (...)

Nguyễn Văn Siêu (1795 - 1872) (...) coi những ghi chép của sử cũ về An Dương Vương là sai lầm.(1)

Các tác giả bộ Việt sử thông giám cương mục (...) dè dặt nêu lên một giả thuyết mới đáng lưu ý: “hoặc giả ngoài cõi tây bắc giáp với nước Văn Lang, còn có họ Thục khác mà sử cũ nhận là Thục Vương chăng?”(2)

Dưới thời Pháp thuộc, xu hướng hoài nghi hoặc phủ định càng có chiều phát triển.Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim) dựa vào Việt sử thông giám cương mục, cho rằng An Dương Vương Thục Phán “không phải là nhà Thục bên Tàu”. Ngô Tất Tố phân tích sâu hơn các luận cứ, khẳng định “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục” (...)

Vào những năm 50, thuyết cổ truyền về nguồn gốc Ba Thục của An Dương Vương (...) được nhiều nhà sử học bảo vệ, nhưng với những cách giải thích mới. 

Có người cho (...)

Có người quan niệm, Thục Phán có thể là con hay cháu xa của vua Thục ở Ba Thục, sau khi đất nước bị diệt đã cùng với tộc thuộc chạy xuống vùng Ðiền Trì, rồi theo sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm vùng Tây Vu ở phía tây bắc trung du Bắc bộ ngày nay. Sau khi lãnh đạo người Lạc Việt và Tây Âu kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán gồm chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương lập ra nước Âu Lạc vào khoảng năm 208 tr. CN.(3)

Cũng có người, căn cứ vào tình hình phân bố cư dân vùng Tây Nam Di, phỏng đoán rằng Thục Vương trong các thư tịch cổ không phải vua nước Thục ở Ba Thục, mà là tù trưởng của bộ lạc Khương di cư từ đất Thục xuống phía nam và tự xưng là Thục Vương. Bộ lạc Thục đó đi xuống vùng Quảng Tây và đông bắc Bắc bộ, cộng cư và đồng hóa với người Tây Âu ở vùng này. Nước Âu Lạc bao gồm hai thành phần cư dân: Lạc Việt và Tây Âu.(4)

Năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương Thục Phán được công bố. Ðó là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này thì Thục Phán là con của Thục Chế “vua” của “nước” Nam Cương ở vùng Cao Bằng, Quảng Tây hiện nay mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng). Nam Cương gồm chín xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Chế mất, con là Thục Phán hãy còn ít tuổi. Chín chúa Mường kéo quân về bắt Thục Phán chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi nhưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi. Thục Phán dùng mưu kế làm cho các chúa mất nhiều công sức, mà không ai thắng cuộc. Cuối cùng, các chúa phải qui phục Thục Phán. Sau đó, “nước” Nam Cương trở nên cường thịnh. Thục Phán, nhân lúc nước Văn Lang suy yếu, đã đánh chiếm lập ra nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa.(5)

Trên cơ sở truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa”, xuất hiện một giả thuyết mới, cho rằng Thục Phán là tù trưởng một liên minh bộ lạc người Tây Âu hay người Tày cổ ở vùng núi rừng phía bắc Bắc bộ và nam Quảng Tây.(6)

Cuối những năm 60 lại xuất hiện thêm hai giả thuyết mới về nguồn gốc của Thục Phán.

Chuyện kể rằng: “… Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời.

Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thuỷ phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về. Nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: "Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này".

Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:

- Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não.

Lạc Long Quân nói:

- Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.

Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai toả đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.”

Truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian như một điểm tựa tinh thần cho người dân nước Việt. Triết lý đông phương về quá trình Hợp của Âm-Dương, của Rừng – Biển đã sinh ra bách tính (trăm Họ) người Việt (Bách Việt) để rồi sự Tan đi khi đầy đủ điều kiện là cơ sở của câu chuyện phù hợp hoàn toàn với quy luật phát triển của sự vật hiện tượng.

1.      Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là kết hợp của Âm - Dương, sự kết hợp của 2 tộc người: Lạc Việt – Âu Việt như một điều tất yếu:

1.1.           Lạc Việt: là Dân Tộc người sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay sinh sống bằng nghề trồng lúa nước.

1.2.           Âu Việt là dân tộc sống ở vùng thượng du Bắc Bộ, là tổ tiên của người: Tày Thái và Nùng hiện nay.

Đến đời Hùng Vương thứ 18 thì Thục Phán, một thủ lĩnh của Âu Việt đã thống lĩnh và đóng đô tại Cổ Loa, đổi tên nước thành Âu Lạc ( Sự hòa hợp giữa Âu Việt và Lạc Việt) Xưng là An Dương Vương. Như vậy trong văn hóa tinh thần thì truyền thuyết Âu Cơ lấy Lạc Long Quân sinh ra cái bọc trăm trứng như sự kết hợp của tinh thần Âu Việt và Lạc Việt trong xã hội Bách Việt thời bấy giờ.

2.      “…Lạc Long Quân sống đầm ấm bên vợ con nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ…” Trong sự bình ổn bên ngoài là cả những thay đổi ngầm bên trong chứa đựng những biến cố, trên thế giới, không có cái gì là bất biến mà chỉ mang tính chất bình ổn tạm thời, trong sự Hợp đã chứa cái Tan, đó là quy luật của vạn vật.

 

3.      “… Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên”. Xã hội người Việt cổ tồn tại 2 chế độ : Mẫu hệ và Phụ Hệ

3.1.           Mẫu hệ: Là chế độ cổ xưa trong thời kỳ nguyên thủy, quyền hành trong xã hội và gia đình do người phụ nữ nắm giữ. Chế độ Mẫu hệ đã tồn tại tại hầu hết dân tộc sống ở miền núi phía Bắc và hiện nay vẫn còn trong một số dân tộc miền cao Việt Nam: Chăm, Jarai, Êđê, Raglai, Churu. Con cái sinh ra đều mang họ mẹ.

3.2.           Phụ Hệ: Cùng với sự phát triển của xã hội loài người thì vai trò người đàn ông càng trở nên quan trọng từ đó các dân tộc đã chuyển sang chế độ phụ hệ, và hầu như các dân tộc sống ở đồng bằng, gần biển đã đi tiên phong trong sự chuyển đổi này. Các con sinh ra đều mang họ cha.

Vấn đề theo mẹ, theo cha cũng là một ý nghĩa sâu sắc của truyền thuyết, dù theo mẹ hay theo cha thì dân Việt vẫn chung một bọc và phải đoàn kết,giúp đỡ nhau. Khi có nguy hiểm, thì dân tộc nào của Người Việt cũng đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau đặc biệt là bảo vệ quê hương đất nước trước giặc ngoại xâm.

Truyền thuyết được lưu truyền mãi cho đến đời nay, trong quá trình này chắc chắn có những thay đổi về tình tiết nhưng cho đến nay câu chuyện về một thời kỳ dựng nước của cả dân tộc với sự phù hợp về quy luật của vạn vật, về văn hóa dân tộc, và cả truyền thống đoàn kết tương trợ của người Việt. Như lời nhắn nhủ của Lạc Long Quân từ ngàn xưa:           “ Nếu gặp nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau đừng có quên.”


(...)

Tất cả những giả thuyết trên đây chứng tỏ rằng nguồn gốc của Thục Phán và sự ra đời của nước Âu Lạc còn nhiều khía cạnh bí ẩn (...) Nhưng xu hướng chung của các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây, đều bác bỏ thuyết cổ truyền về gốc tích Ba Thục của Thục Phán. Thuyết này không những chứa đựng những điều phi lý, khó giải thích về khoảng cách không gian và thời gian giữa nước Thục ở Tứ Xuyên với nước Âu Lạc ở bắc Việt Nam (...) mà còn trái ngược với nhiều nguồn tư liệu trong nước.

(...)

Tổng hợp những kết quả nghiên cứu cho đến nay, có thể tạm xác lập một giả thuyết như sau:

Cư dân nước Văn Lang đời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và bao gồm cả một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là Âu Việt) ở miền núi rừng và trung du phía bắc, hai thành phần đó sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Phía bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Tây Âu, cũng có những nhóm Lạc Việt sống xen kẽ (...)

Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía nam của Bách Việt, sống gần gụi nhau và có vùng xen kẽ nhau, trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang. Vừa là đồng chủng, vừa là láng giềng, từ lâu người Lạc Việt và người Tây Âu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa (...)

Thục Phán là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở phía bắc nước Văn Lang, theo truyền thuyết của đồng bào Tày thì liên minh bộ lạc đó là “nước” Nam Cương gồm 10 xứ Mường (9 mường của 9 chúa và 1 mường trung tâm của Thục Phán) tức 10 bộ lạc họp thành, với địa bàn cư trú gồm vùng nam Quảng Tây, Cao Bằng và có thể rộng hơn, cả vùng núi rừng phía bắc Bắc bộ, mà trung tâm là Cao Bằng (...)

Giữa người Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều quan hệ gắn bó lâu đời. Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng mối quan hệ giữa hai yếu tố Lạc và Âu trong cội nguồn xa xưa của các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán là thuộc “dòng dõi”, “tông phái”, hoặc là “cháu ngoại” của vua Hùng (...)

Nhưng mặt khác, vào cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xẩy ra một cuộc xung đột kéo dài (...) Ðó là những cuộc xung đột không tránh khỏi trong quá trình tập hợp các bộ lạc và liên minh bộ lạc gần gụi nhau để lập thành Nhà nước và mở rộng phạm vi kiểm soát của Nhà nước đó.

Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì (...) người Lạc Việt và Tây Âu, cùng toàn bộ các nhóm người Việt trong khối Bách Việt đứng trước một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm. Ðấy là nạn xâm lược đại qui mô của đế chế Tần. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy cắt nghĩa tại sao cuộc xung đột Hùng - Thục lại kết thúc bằng sự nhường ngôi của Hùng Vương cho Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc như một bước phát triển kế tục của nước Văn Lang, một sự hợp nhất ở mức độ cao hơn, phạm vi rộng hơn, của người Lạc Việt và người Tây Âu.

(...) (trang 179 đến trang 197 nói về “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần”)

Trước cuộc kháng chiến chống Tần, liên minh bộ lạc Tây Âu của Thục Phán đã có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang của Hùng Vương. Mối quan hệ vừa giao lưu, liên kết, vừa đấu tranh, xung đột giữa hai tộc người gần gụi về dòng máu, về địa vực, về kinh tế, văn hóa như vậy là cơ sở và cũng là bước chuẩn bị cho sự hợp nhất hai tộc người Lạc Việt - Tây Âu để mở rộng và phát triển nước Văn Lang. Cuộc kháng chiến chống Tần càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa xu thế phát triển đó. 

Khi tiến vào nước ta, quân Tần xâm phạm trước hết địa bàn cư trú của người Tây Âu. Thục Phán với vai trò thủ lĩnh liên minh bộ lạc Tây Âu, dĩ nhiên phải đứng ra tổ chức và chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Tần. Quân Tần càng tiến sâu về phía nam, càng gặp phải sức chống trả quyết liệt của người Tây Âu và người Lạc Việt. Các thủ lĩnh người Việt, do yêu cầu của cuộc chiến đấu, đã suy tôn Thục Phán lên làm người chỉ huy cao nhất. Có lẽ đó là ý nghĩa của việc “họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng” mà Lưu An đã chép trong Hoài Nam Tử.

(...)

(...) việc Thục Phán thay thế Hùng Vương, tự xưng An Dương Vương và lập ra nước Âu Lạc thì có lẽ được thực hiện sau khi kháng chiến thành công (...)

(...) Sự thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của một cuộc chiến tranh thôn tính, tiêu diệt, mà là một sự hợp nhất cư dân và đất đai của Lạc Việt và Tây Âu, của Hùng và Thục. Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục và cao hơn nước Văn Lang (...)

Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, khoảng gần 30 năm (khoảng 208 - 179 tr. CN). Do đó, thời gian tồn tại của nước Âu Lạc không tách ra thành một thời kỳ lịch sử riêng, mà được coi như một giai đoạn phát triển tiếp tục của nước Văn Lang (...) nằm trong một thời đại chung: thời đại dựng nước đời Hùng Vương và An Dương Vương.


(Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, 
Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 169-199)





_________________
Nhan đề do người trích tạm đặt.
Chú thích của sách:
(1) Nguyễn Văn Siêu, Phương Ðình dư địa chí.
(2) Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên, q. I. 8b.
(3) Ðào Duy Anh, “Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc”, Hà Nội 1957 (...) Sau khi phát hiện ra truyền thuyết về nước Nam Cương của người Tày ở Cao Bằng, Ðào Duy Anh có sửa đổi giả thuyết cũ, cho rằng con cháu vua Thục từ Tứ Xuyên xuống Quí Châu, Vân Nam rồi vào nước Nam Cương và Thục Phán trở thành tù trưởng của liên minh bộ lạc người Tây Âu ở đó. Xem: Ðào Duy Anh, Ðất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội, 1964, và “Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương”, Khảo cổ học 3-4, tháng 12-1969.
(4) Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam, nxb. Giáo Dục, Hà Nội 1960, tr. 51-56.
(5) Lã Văn Lò, “Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa của đồng bào Tày”, Nghiên cứu lịch sử 50-51, tháng 6-1963. Ðây là một truyền thuyết dân gian ở vùng Cao Bằng, được Lê Sơn viết thành trường ca hơn nghìn câu tiếng Tày. Lã Văn Lò dịch ra tiếng Việt và công bố. Trước đây, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số tác giả người Pháp khi viết lịch sử người Tày có nhắc đến thuyết này, nhưng không công bố tư liệu.
(6) Ðặng Nghiêm Vạn và Trần Quốc Vượng, “Vấn đề An Dương Vương và lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam”, Thông báo khoa học - sử học, trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội, t. II, 1966 (...) 
Ðào Duy Anh, Ðất nước Việt Nam qua các đời, sđd.
Chú thích của người trích:
(*) Mường đây là tiếng Thái có nghĩa là một khu vực, chứ không có liên hệ gì với người Mường. Nói “Nam Cương gồm chín xứ Mường” dễ gây ngộ nhận. Thiết tưởng nên nói “Nam Cương gồm chín mường” rồi cước chú nghĩa của chữ “mường”.

 


 Cổ Loa - Âu Lạc

“Thục từ dứt nước Văn Lang

Cải tên Âu Lạc dời sang Loa thành”

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

 

I. Môi trường:

 

00. Nếu trung tâm xưa của “nước Văn Lang” thời đại “các Vua Hùng” của lịch sử, hay/ và sơ kỳ thời đại Kim khí của khảo cổ học, là vùng Việt Trì – Làng Cả - Bạch Hạc, tức là vùng đồi gò trung du hay/ và vùng đỉnh thứ nhất của tam giác châu sông Nhị (Hồng hà) thì thế lưỡng hợp Âu (Việt) và Lạc (Việt) thành đất Âu Lạc thời đại thục phán – An Dương vương với trung tâm CHẠ/LÀNG CHỦ Cổ Loa, là sự chuyển dịch và phát triển đất nước theo chiều Tây – Đông từ trung du xuống hạ du cận biển Đông khi ấy, có thể là trên tảng nền kinh tế - xã hội của sự phát triển kỹ thuật đúc đồng – rèn sắt, sự phát triển đại trà nghề nông trồng lúa nước, sự phát triển và phân tầng (xã hội) thêm một bước của cấu trúc xã hội trồng lúa nước (Rice growing Society), sự ra đời hay/ và củng cố thêm một bước Nhà nước đầu tiên của cư dân nông nghiệp và Văn minh nông nghiệp lúa nước (Rice growing Âu  lạc của Civiligation).

 

Cái nhìn lịch sử-sinh thái nhân văn hay cái nhìn địa-lịch sử, địa-văn hoá (Geo-history, Geo-culture) buộc chúng ta phải xem xét lại thể cảnh môi sinh vùng Cổ Loa trong bối cảnh (context) tam giác châu Bắc bộ (*)

 

01. Vị trí

 

Cổ Loa nằm gọn trong một vùng được giới hạn như sau:

 

Phía Nam: Vĩ độ 21 độ 05 (vĩ độ của Mai Lâm)

 

Phía Bắc: Vĩ độ 21 độ 10 (vĩ độ của Thuỵ Lâm)

 

Phía Đông: kinh tuyến 105 độ 55 Đông (của Ngọc Lôi)

 

Phía Tây: Kinh tuyến 105 độ 50 Đông (của Cổ Dương)

           

Đó là một ô vuông, mỗi cạnh khoảng 10km, diện tích khoảng 100 km2. Trung tâm của ô vuông (hay còn gọi là tứ giác nước) này là thành Cổ Loa. Toàn khu vực nằm ở phía Bắc trung tâm Hồ Gươm, thủ đô Hà Nội ngày nay (khoảng 17 km) ở tả ngạn sông Nhị (Hồng) và sông Thiên Đức cũ (sau được đào ngắn thành sông Đuống hiện tại).

           

Phía Tây Bắc thành Cổ Loa là vùng Tó (Tó, tiếng Tày - Việt cổ có nghĩa “vùng ngoại vi” thành luỹ, nay là thị trấn Đông Anh và các làng xã Cổ Dương, Lương Nỗ, Uy Nỗ…). Phía Tây Cổ Loa là các làng Tiên Dương, Uy Nỗ thượng. Phía Tây Nam có các làng xã Trầm Xá, Đông Hội, Xuân Canh…Phía Đông Nam có các làng Lý Nhân, Lộc Hà…Phía Đông có Dục Tú. Đông Bắc có Dục Tú, Gia Lộc, Dục Nội, Lỗ Giao, Lỗ Khê hay là vùng “Ba làng Quậy, bảy làng Rỗ (Lỗ)”.

 

02. Địa hình: Cổ Loa có tên dân gian là Chạ/Làng Chủ. Đại Vĩ, Hà vĩ…có tên dân gian là Quậy. Đọc câu thành ngữ dân gian: “Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc” ta thấy ngay ở vùng thuộc xứ sở “mưa nhiều nắng lắm” này, Cổ Loa là vùng đất cao hay vùng rìa thềm cổ (theo Đinh Văn Nhật) nằm nghiêng nghiêng Tây Bắc - Đông Nam (từ “cốt” 11-12m xuống cốt 5-6m) và vùng Quậy, nay là xã Liên Hà là một “trũng” (ô trũng) của tam giác châu sông Nhị.

 

0.2.1. Nói đúng theo ngôn ngữ địa lý học hiện đại, Cổ Loa nằm ở một vị trí khá đặc biệt, nó thuộc về phần “thượng đỉnh” của tam giác châu và nằm gần như trên trục chính của tam giác châu sông Hồng.

 

0.2.2. Nhiều nhà địa lý học (Lê Bá Thảo, Vũ Tự Lập…) phân chia tam giác châu sông Hồng làm ba vùng: vùng cao (thượng), vùng giữa (trung), vùng thấp (hạ) hay là vùng “già” (old delta), vùng “trẻ” (young delta), ứng với ba đỉnh tam giác châu, theo lịch đại, là: Việt Trì-Dâu Canh - Phố Hiến.

 

0.2.3. Cổ Loa – Hà Nội nằm trong vùng “đất cao Tây Bắc” của tam giác châu sông Hồng. Sự phân chia ấy xuất phát từ nét đặc trưng là độ cao của vùng này hơn hẳn vùng còn lại của châu thổ. Ở đây có những “gờ” “mộc” (Cổ Loa) hay “con trạch”, “sống đất” (bourelete) cao 13 – 15m nằm cạnh những dải đất thấp 5m, thường tụ nước, tạo thành những đầm hồ. Có khi đó là những khúc sông cũ hình móng ngựa của “tứ giác nước” Cà Lồ (Bắc) – Thiên Đức (Dâu, Đuống) (Nam) - Nhị (Hồng) (Tây) – sông Cầu (Nguyệt Đức) (Đông). Dân vùng Cổ Loa – Đông Anh gọi là “sông sau”, Thiên Đức - Dâu - Nhị là “sông trước” với dòng sông Nhỏ - Thiếp (Thiếp, tiếng Tày - Việt cổ chỉ con sông nhỏ - chảy qua thành luỹ Cổ Loa (Hoàng giang) giữa hai con sông lớn Bắc Nam) đã bị “chết” hay bị “bỏ rơi” trong quá trình sông đổi dòng trên bề mặt châu thổ do chính phù sa của chúng tạo thành.

 

0.2.4. Châu thổ Bắc Bộ, vùng giữa, vùng thấp độ cao (“cốt”) chỉ 4-5m, với một số gờ đất không cao lắm, chênh nhau vài mét với các “trũng”  (trũng Ứng Hoà, Hà Tây ( Hà Đông, Sơn Nam Thượng cũ), “cố” chỉ có 1m và giảm dần về phía Đông Nam. Tức là ra phía các cửa sông (“cốt” 0, sông Hồ, Thái Bình thì hoàn toàn không còn thấy những gờ đất cao ven hai bên sông nữa, có chăng sau này chỉ là đê sông, đê biển nhân tắc nhân vi…(tất nhiên ở châu thổ Bắc bộ về mặt địa hình còn phải chú ý đến các đồi núi “sót”, như núi Sái (Thuỵ Lôi) ở Tây Bắc Cổ Loa, Tiêu Sơn, Phật Tích, núi Chè, Long Khám, Hồng Vân - thuộc Tiên Du cũ, Từ Sơn, Bắc Ninh nay - ở nam Cổ Loa…).

 

03. Theo đường thẳng chim bay, Cổ Loa cách đỉnh thứ nhất Việt Trì của tam giác châu 35km (đấy là cuộc “hành trình lịch sử” từ vua Hùng (Pò Khun) đến vua Thục Phán (Túc Phắn) và cách biển 65km (cuộc “hành trình lịch sử” về sau - đến nay).

 

0.3.1. Nếu ta đi từ miền núi - miền đồi xuống miền châu thổ xuôi theo lưu vực sông Nhị - Hồng thì ta nhận thấy từ Việt Trì (trung tâm “Văn Lang”) đến Cổ Loa (trung tâm Âu Lạc) rồi đến Thăng Long (trung tâm Đại Việt), thung lũng chưa mở rộng, địa hình còn mấp mô, với những đồi gò sót kéo dài xuống như “cái đuôi” của hai dải Tam Đảo (tả ngạn) Ba Vì (Tản Viên - Hữu Ngạn) đóng khung hai bên rìa châu thổ. Sườn Đông – Nam ( Sóc Sơn) của dải núi Tam Đảo chỉ cách Cổ Loa có 18km. Theo huyền tích dân gian, đấy là đường hành quân của vua Thục Phán -An Dương Vương. Từ “kinh đô nhà Hùng” (Việt Trì) qua núi Đối Mã xuống vùng Tó rồi cuối cùng “định đô” ở Cổ Loa.

 

0.3.2. Vậy vùng “thượng” hay “thượng đỉnh” của tam giác châu Thao-Hồng này có thể coi là vùng “chuyển tiếp” từ trung du xuống đồng bằng. Nó là khu vực được bồi đắp đầu tiên khi sông Thao (nậm Tao của người Tày - Việt cổ) đã tiếp nhận các phụ lưu lớn của mình là sông Lô (nậm Lù), sông Đà (nậm Tè)và bắt đầu mở rộng thung lũng. Sau khi đã vào hẳn ở châu thổ “cổ” rồi, con sông Nhị - Hồng này mới tách ra các chi lưu (sông Đáy, sông Dâu (Thiên Đức) rồi sông Luộc, sông Châu…) để thoát (nước) lũ…

 

04. Cổ Loa có những đường thuỷ tự nhiên: nằm kề sông Hoàng giang (sông Thiếp) - bắt nguồn từ Đại Đồng thuộc Yên Lãng – Phúc Yên cũ (nay là Mê Linh – Đông Anh). Nhìn trên ảnh chụp từ vũ trụ (viễn thám), sông Thiếp nối liền Cổ Loa với các vùng trung du (trên) và châu thổ (dưới) lân cận…

 

Như đã nói ở trên, Cổ Loa nằm giữa sông Cà Lồ (Bắc) và sông Dâu – Thiên Đức - Đuống (Nam) với dòng Hoàng giang kề cận (giữa).

 

0.4.1. Theo vị trí tưởng – nhìn hồi cố và theo tài liệu của Cục Lưu trữ Trung Ương về ác tỉnh Phúc Yên, Bắc Ninh cũ thì sông này bắt nguồn từ sông Hồng chảy qua các huyện Yên Lãng, Đông Ngàn ( Đông Anh), Tiên Du, Yên Phong, Võ Giàng rồi đổ ra sông Cầu ở vùng Quả Cản, đối diện Thổ Hà. Do vậy nó còn mang tên là ngũ huyện khê. Thực ra cái gọi là sông Ngũ Huyện là một phức hợp những khúc sông tự nhiên được con người tiếp nối bằng những đoạn kênh đào thẳng (y như cái gọi là sông Đuống hiện nay vậy) phân tích ảnh vệ tinh (viễn thám) chụp vùng đồng bằng Bắc bộ váo tháng 12 (mùa khô), vẫn nhìn thấy rất rõ những dấu vết lòng cũ của sông Nhị - Dâu (Thiên Đức) - Thiếp (Hoàng giang) – Tiêu tương: để lại trên đồng bằng đông ngàn - Cổ Loa - Từ Sơn (Tiên Sơn), Gia Lâm, Thuận Thành…hoặc kết hợp giữa cách tiến cận phân tích ảnh vệ tinh và việc đi điền giã với lối nhìn môi trường – sinh thái học nhân văn thì cũng vậy. Đó là những khúc sông “chết” hay bị “bỏ rơi” dưới dạng móng ngựa. Những khúc sông chết này rải rác khá nhiều trên châu thổ Bắc bộ. Nhưng rõ nhất vẫn là ở vùng phía Bắc Hà Nội.

           

0.4.2. Ba/bốn cái vòng “móng ngựa” khá to, thấy rất rõ trên ảnh vệ tinh và khi đi điền giã ở vùng chung quanh Cổ Loa là:

           

1. Đầm Vân Trì

           

2. Vực Dê và đoạn sông Thiếp từ đó đến Mạch Tràng rồi chạy vòng vo xuống phía Nam như là “ngoại hào” của khung thành luỹ Cổ Loa.

           

3. Vực Tó và những dòng chảy xuống bao quanh phía Bắc khu thành luỹ Cổ Loa.

           

4. Khúc cong từ Mai Lâm vòng qua đầm cả rẽ lên Dục Tú (dẫy ao dài tách Dục Tú thành hai nửa: thôn Tiền – thôn Hậu) rồi qua Đình Tràng, Châu Khê, Trịnh Tháp, “trũng Vân Điềm” (làng Đóm)…

 

Phải nói rằng trên bản đồ địa hình dù với tỉ lệ lớn của Cục Bản đồ Nhà nước cũng khó mà phân biệt được giữa sông đào với sông tự nhiên. Ngược lại bằng tư duy điền dã tưởng - nhìn hồi cố, kết hợp với ảnh vệ tinh (dù chụp ở độ cao cả trăm kilômét) vẫn thấy rõ các khúc sông tự nhiên, còn kênh đào nối liền các khúc sông thì không nhìn thấy hoặc rất lờ mờ (đường bộ giao thông cũng vậy). Điều đó nói lên rằng:

           

- Những thành tạo tự nhiên có nguồn gốc sâu sa hơn nhiều. Chúng có bề dày hàng chục, có khi hàng trăm mét trong lòng đất, trong khi đó kênh đào chỉ ở trên bề mặt.

           

- Chính nhờ nguồn gốc sâu sa và lịch sử hình thành lâu dài (tầng cuội sỏi và phù sa hạt mịn tổng cộng dày tới 60 đến 70 mét theo tài liệu thăm dò địa chất) nên chúng in đậm nét lên ảnh vệ tinh. Đấy cũng là nhận xét của các chuyên gia địa chất học giải đoán địa - ảnh: “những thành tạo có gốc rễ càng sâu trong lòng đất thì càng in dấu đậm nét trên ảnh chụp từ tầng cao vũ trụ” (càng bay xa lên tầng cao, càng nhìn thấu suốt xuống chiều sâu: đó là bản thể nhận thức luận)

           

0.4.3. Trong trường hợp cụ thể của sông Thiếp – Hoàng giang, có thể nói (và viết) là nó đã tồn tại từ lâu như một con sông tự nhiê: đó là một chi lưu (refluent) của sông Thao - Nhị - Hồng.

Thế rồi… thế sự thăng trầm… nó bị “bỏ rơi – hay gần như thế (xem Nguyễn Thiệu Lâu : một đoạn sông Hồng, từ cửa sông Lô đến cửa lấp sông Cà Lồ mấy nhận xét về đoạn sông Hồng quanh Hà Nội, từ cửa sông Đuống đến Từ Sơn, Tài liệu Cục Lưu trữ Trung Ương).

           

05. Phù sa và con người:

           

0.5.1. Sự có mặt rộng rãi của tầng cuội - sỏi trong cột địa tầng các lỗ khoan thăm dò địa chất vùng quanh Hà Nội - Cổ Loa chứng tỏ lòng sông cũ  cửa sông Hồng (chỗ chứa đầy cuội sỏi từ miền núi mang xuống) đã từng di chuyển quét ngang nhiều lần trên bề mặt tam giác châu (GS Nguyễn Viết Phổ nguyên Cục trưởng Cục Thuỷ văn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng - thuỷ văn Việt Nam, trong một tài liệu chưa công bố và trong cuốn sông ngòi Việt Nam (H.1989) đã khẳng định rằng: sông Tô Lịch là lòng cũ sông Hồng, rằng “lòng sông Hồng di chuyển hướng Tây – Đông trong nhiều trăm năm lịch sử”, rằng “sông Thiên Đức xưa hay/và sông Đuống ngày nay (tiêu thụ) tới 2/3 lượng nước sông Hồng trôi ra biển Đông”…

           

Quá trình dịch chuyển hẳn đã diễn ra trong hàng ngàn năm, vì tầng cuội sỏi cửa lòng sông Hồng xưa đã đạt đến chiều dày hàng chục mét trở lên. Ví dụ: một lỗ khoan ở thôn Mạch Tràng xã Cổ Loa cho thấy tầng cuội dày 14 mét. Sang đến Dục Nội, qua xóm Thư Cưu - Cổ Loa, tầng cuội giảm bề dày còn ≥ 12 m, nhưng tới Dục Tú thì độ dày lên tới ≥ 2m.

           

Đáy tầng cuội cũng không đồng đều về độ sâu: -49m ở làng Mạch Tràng xã Cổ Loa, -40m ở Dục Nội (có lúc gọi là Việt Hùng) và -68m ở Dục Tú.

           

0.5.2. Điều đó cho ta thấy địa hình đá gốc, đá mẹ (mother – stone) ở châu thổ - tam giác sông Hồng vốn có bề mặt mấp mô kiểu “lên đồi/xuống gò sót”. Nhờ sự bồi đắp “tích cực” của hệ thống sông Hồng (tuy không “dài nhất thế giới” nhưng thuộc loại “cuồn cuộn phù sa nhiều nhất thế giới”, nhưng thuộc loại địa hình ngày nay có vẻ đã trở nên tương đối bằng phẳng hơn: bề dày tầng phù sa hạt mịn và nhỏ (nằm trên tầng cuội tảng nền cơ sở) tăng dần… từ Mạch Tràng (25m) đến Dục Nội (44m). Khối lượng phù sa “vĩ đại” và chiều dày “lịch sử” của nó là kết quả của hàng ngàn vạn năm bóc mòn núi đồi Vân Quý (Vân Nam – Quý Châu, độ cao hơn 4.000) để bồi đắp cho châu thổ Bắc Bộ Việt Nam.

           

0.5.3. Mà đã xong đâu…con người Việt cổ từ trước sau Công nguyên đã tràn xuống tam giác châu, rồi đắp bờ vùng - bờ thửa tiến tới đắp đê làng xã – vùng miền-đất nước, khiến châu thổ Bắc Bộ có lẽ là duy nhất ở Đông Nam Á chưa hình thành xong một cách tự nhiên, đã được/bị con người chiếm lĩnh hoặc bằng cách hành động nhân vi nhân tác (đào kênh, khơi ngòi, đào ao, lấp trũng, đắp đê sông, đê biển) đã được chặn đứng quá trình hình thành tự nhiên của một tam giác châu và đã để lại (qua lịch sử con người) nhiều “trũng” mà Quậy cận kề Cổ Loa - Trại Chủ chỉ là một muôn vàn ví dụ.

           

0.5.4. Sự bồi đắp mạnh mẽ, khác thường ấy có thể do mấy nguyên nhân phối hợp cùng nhau/với nhau mà các nhà địa mạo học đã từng nhắc đến:

           

- Do đợt biển tiến Flandrian, bắt đầu từ 17.000 năm cách ngày nay (B.P.) và lên/xuống rồi đến cao điểm, ổn định cách ngày nay 2.500 năm (trồi sụt 2 đến 4m so với mực nước biển ngày nay)

           

- Do con người. từ thời đại đá, (ở Cổ Loa đã tìm được đồ đá cũ Sơn Vi (Cuội ghè) (25.000-10.000 năm B.P.) Tại các di tích Đường Cấm Xứ, Thư Cưu…) ta cũng thấy rìu có vai mài Hậu kỳ Đá Mới ở xóm Nhồi, xóm Thượng …) đã đốt/ phá rừng, làm rẫy trên vùng Thượng - Trung - Hạ du, tạo ra những “đồi trọc” nguyên sơ. Điều kiện nhiệt đới – gió mùa – nóng ẩm đã gây ra sự xâm thực, xói mòn (Erosion) “gia tốc” đầu tiên, góp phần làm tăng lượng phù sa của các dòng sông, khi hội tụ ở đỉnh rồi lan toả xuống châu tam giác. Nhờ đó, tam giác châu được bồi đắp nhanh hơn và tiến ra biển về phía Đông Nam cũng nhanh hơn…

           

- Do vận động tân kiến tạo (neo-tectonic) lún từ từ … tà tà…của “trũng Hà Nội” nói riêng hay/và “trũng sông Hồng” nói chung , tạo điều kiện cho sự tích tụ phù sa dày.

 

Như vậy, trong ba nguyên nhân hay nhân tố tạo tam giác châu sông Nhị - Hồng, CON NGƯỜI đã chiếm một tác nhân và không kém phần “tích cực” (Active) so với “các nhân tố tự nhiên”.

           

0.6 Ngoài các đồi, gò sót hay/và thềm cổ (dễ nhận thấy ở vùng Mạch Tràng, Đầm Cả, Thư Cưu) vùng đất bãi ở Cổ Loa thuộc hệ thống “bãi bồi cao” của hệ thống Nhị - Hồng - Dâu Canh, có tuổi khoảng 2500 (B.P.), tương đương với thời kỳ thành tạo các bãi biển “cát vàng” hiện tại. Đó là thời đoạn “biển tiến” Holoken trung, mực nước đại dương đã lên tới tối đa (khoảng 4m so với mực nước biển ngày nay) và đã rút dần và ổn định, với những dao động nhỏ về sau, không đáng kể.

           

Nếu không có những đê - luỹ được thiết lập từ trước – sau Công nguyên và hoàn chỉnh thành “hệ” từ sau những thế kỷ X-XI thì vùng Cổ Loa có thể được bồi đắp mỗi khi có lũ tràn về…

 

II. Con người và văn hóa:

 

0.0 Cổ Loa còn đó, với tên gọi, với các luỹ thành, ngày càng bị sói mòn bởi thời gian, do tự nhiên và do nhiều tác động nhân vi – nhân tác. Với các Đền (Đền Thượng, thờ An Dương Vương), Đình (cũng thờ An Dương Vương, nhưng ngôi đình hiện tại - với niên đại 1893 (Thành Thái) thì được “mua” từ Việt Trì và dựng lại, có bức “cửa võng” cực đẹp), với Am (thờ Mỵ Châu với pho tượng đá “cụt đầu”, do bị vua cha chừng phạt, thực ra đó là ba tảng đá cuội kết lớn được kết dính lại với nhau)… và nhất là nhiều huyền tích vô thể được “thi vị hoá” thành thiên “tình sử Loa thành” thành tiểu thuyết “Mỵ Châu - Trọng Thuỷ”… được tồn đọng trong dân gian với lệ “ăn sêu bà Chúa” (cả làng ăn bún vào ngày 13 tháng Tám lịch Ta)…

           

Cổ Loa đã và đang bị biến dạng…

 

01.1 Cổ Loa với những tên gọi khác nhau “Việt vương cố thành” (Tuỳ thư, VI), “cố Thành của An Dương Vương ở huyện Bình Đạo” (Thuỷ kinh chú, VI), “thành khả lũ” (An Nam chí lược, Lê Trắc, 1333) thuộc trangKim lũ” (thần phả Nguyễn Bính 1572) với “thành Cổ Loa” (tên Cổ Loa) chính thức xuất hiện từ thế kỷ XV với sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng), với “Nàng Ốc”, “thành Ốc” (Thiên Nam ngữ lục, XVII-XVIII) rồi với G.Dumoutier (cuối XIX), với tập không ảnh chụp năm 1940 (không rõ ràng lắm) và tác phẩm của R.Despierres (Cổ Loa, Âu Lạc capitale du Royaume Âu Lạc, H.1943), với Trần Trọng Kim ( Việt Nam sử lược, 1909 và tái bản 1953…) với Đào Duy Anh (Việt Nam sử lược giáo trình, Cổ sử Viêt Nam, quyển thượng, H.1995)vv… và vv.

 

01.2 Năm 1959 tin tức gây chấn động về việc phát hiện ra kho mũi tên đồng Cổ Loa gần hàng vạn chiếc (hiện tàng trữ tại kho bảo tàng Thăng long, Hà Nội, ở chùa Hưng Ký). Lúc bây giờ Cổ Loa – Đông Anh còn thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, và đã được các cụ Văn Tân (Viện Sử học), Đào Từ Khai (Viện Bảo tàng lịch sử) đăng tải các ý kiến riêng/chung trên Tập san Nghiên cứu lịch sử…và đều gắn/gán phát hiện “có một chưa hai” đó với huyền tích “nỏ thần của vua Thục An Dương Vương”.

 

Chỉ sông, sông cạn

Chỉ núi núi tan

Chỉ ngàn, ngàn cháy…

 

Rồi sau đó, liên tiếp xuất hiện các bài nghiên cứu về lịch sử huyền tích Mỵ Châu - Trọng Thuỷ ở thập kỷ 60 của các ông Trần Nghĩa, Dương Tất Từ, Trần Quốc Vượng, (Tạp chí văn học, Viện Văn học) trong đó ông Từ nêu ra chứng cứ Lĩnh Nam trích quái (XIII-XV) về Cổ Loa thuộc đất Vịêt Thường thị và ông Vượng nêu ra những thư tịch cổ Trung Hoa từ đầu thiên niên kỷ I nói Trai Ngọc là sản phẩm quý của vùng Biển Đông – nay dân chài vịnh Hạ Long – Bái Tử Long còn gọi là hào Giâu – Giâu – Châu cũng biến âm như Giầu - Trầu (Cau), Giàn – Tràn (nước)…và do vậy các thủ lĩnh Việt cổ sinh còn thường đặt tên là Châu Mỵ (Nương) theo lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi đời Tống phiên âm là Mễ nang – là một tên Việt - Mường cổ chỉ con gái các thủ lĩnh (lang đạo, lang cun, pò Khun...)

 

0.1.3. Công cuộc nghiên cứu điền dã Cổ Loa thực sự bắt đầu giữa thập kỷ ‘60 - thời chống Mỹ cứu nước của Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Mỹ thuật, Phòng Bảo tồn bảo tàng Sở Văn hóa...

 

Một Cổ Loa xưa trong lòng Đất và trong lòng Người bước đầu được phát triển và tìm hiểu.

 

02.1. Khi phân tích truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, các học giả P.Pelliot, J.Prfyluski,  Đào Duy Anh... đã thấy “cốt truyện” này tương tự (cùng cấu trúc với hệ biểu tượng, cổ tượng (mẫu gốc, archetype)...) với câu chuyện “nàng công chúa tanh mùi cá” của Phù Nam (châu thổ Mê-công nay). Học giả Ca Văn Thỉnh thấy giống cốt chuyện “Theo dấu lông ngan” của một đoàn tuồng Quảng Đông. Các GS Từ Chi, Bùi Văn Nguyên, Trần Quốc Vượng đã lần theo “di tích” và cốt truyện này ở ven biển xứ Thanh (Nghi Sơn, Tĩnh Gia), xứ Nghệ (đền Cuông, Đông Thành, Diễn Châu) cho tới ven biển Nam Ấn Độ, vùng châu Phi đen ven biển Đại Tây Dương rồi đến miền Bretagne (Pháp) ven biển Manche...

 

Chủ đề phổ quát (universel) của câu chuyện này là “Tình yêu và sự Phản bội”, là sự tiết lộ “bí mật nội bộ của một công nương đắm say chàng trai ngoại lai khiến mất “nước” (lãnh thổ) và bị vua-cha trừng phạt hay đó cũng là sự tích “ngọc trai” kết tinh máy huyết và cuộc tình đau khổ của con người (“Yêu vừa là sung sướng vừa là đau khổ” là kết luận  của giới Tâm lý học phân tích hay Tâm lý học các chiều sâu)

           

Huyền tích Mã Viện (“tướng Tàu”) phá tượng đá Mỵ Châu (hay là một tượng đá nào đó) lấy châu ngọc ở Cổ Loa hay/là nơi khác cũng được GS Trần Đức Thảo phân tích như câu chuyện "thạch trung ẩn ngọc” trong đá (cái “thường” có ẩn dấu ngọc “cái quý” việc hình thành các “kho hàng” của tầng lớp thương nhân (hay thủ lĩnh kiêm thợ cả kiêm thương gia) thời đại Sơ kỳ Kim khí và việc đánh phá, chiếm đoạt các kho báu đó của thủ lĩnh đối lập, láng giềng...

           

Với thời gian, huyền thoại - huyền tích này đã được “lịch sử hóa” (historisé) và thời sự hóa, chính trị hóa (evhémerisé).

 

02.2 Tiếp theo việc “phục nguyên” về ngôn ngữ học (sémantique) các danh hiệu Hùng vương-Vua (Bua) Hùng-thành Pò Khun (Khun = thủ lĩnh, Pò Khun = thủ lĩnh mạnh nhất/vua như Khan = thủ lĩnh, Tchingit Khan = thủ lĩnh mạnh nhất/vua,  mà ta hay phiên âm là Thành-cát-tư-hãn, vua đầu tiên của Mông Cổ), Trần Quốc Vượng và các cộng sự (Cầm Trọng, Phạm Đức Dương, Cao Xuân Hạo...) đã phục nguyên danh hiệu “Thục Phán” (không phải họ Thục, tên Phán, người gốc Tứ Xuyên nước Thục...). Theo tiếng Tày-Việt cổ là “Tuk Phắn”; (Phắn=Phanh, như sử thi Phanh Mương của người Thái) tức là thủ lĩnh chiến tranh “người đi mở đất mở mường”, nó tương ứng với khái niệm thủ lĩnh thời đại “dân chủ-quân sự” của F.Engels (trong Nguồn gốc của gia đình, của riêng và Nhà nước, chương IX Dã man và Văn minh).

 

02.3 Do vậy, nếu ta/tôi nêu giả thuyết, để tiếp tục nghiên cứu là:

 

+ VUA HÙNG-PÒ KHUN là THỦ LĨNH TỐI CAO (Mỹ-Anh dịch là overlord) của Hệ thủ lĩnh (Mỹ-Anh dịch là chiefdom (s)) các tộc Việt cổ ở miền lưu vực  (trung-hạ lưu) sông Thao (Nhị, Hồng)-Âu Việt, Lạc Việt... đã từng tồn tại từ dăm bẩy thế kỷ trước Công nguyên.

 

+ ...thế thì cái nhãn/danh hiệu An Dương vương Thục Phán mà lịch sử truyền thống đã chép và huyền tích dân gian đã lưu truyền có thể là sự “Hán hóa” về sau, như các danh hiệu Hùng/Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng... Cái chức danh Tuk Phắn, một ý niệm Tày-Việt cổ, chỉ người “thủ lĩnh đi mở đất mở mường” hay để dùng khái niệm của F.Engels, là “thủ lĩnh quân sự” của đầu thời đại Sắt, vài ba thế kỷ trước Công nguyên.

           

Lịch sử nước nào, dân tộc nào cũng có một niên đại sớm nhất được ghi trong biên niên sử đáng tin cậy, tuy đấy là sự thực đã là niên đại muộn mằn. Trong  lịch sử Trung Hoa, đó là năm 841 trCN, thời Đông Chu…Trước đó, thời Thương-Ân và có thể cả thời Hạ Vũ…chỉ có niên đại tương đối theo giả thuyết và còn tiếp tục được tranh biện. Ấy là chưa kể Sử ký Tư Mã Thiên còn chép cả các đời “Tam Hoàng-Ngũ đế” thực ra đã thuộc lĩnh vực huyền thoại/và huyền tích.

           

Ở trường hợp Sử nước Nam, thì cũng vậy. Ta chỉ biết chắc (theo Sử ký Tư Mã Thiên), nhân vật lịch sử Triệu Đà xưng là Nam Việt vương vào năm 183 trc.CN đến cuối năm 180 trc.CN thì xưng Nam Việt Vũ đế và sau đó “dùng binh uy hiếp miền biên cảnh và dùng của cải mua chuộc khiến Mân Việt ở Đông và Âu Lạc ở Tây thần phục” (Sử ký, q.113)

           

Như vậy, Âu Lạc là một thực thể xã hội - tiền nhà nước hay Nhà nước sơ khai (lại cũng dùng khái niệm của F.Engels)-tồn tại trước năm 189 tr.CN. Ta có thể “đặt” - một cách hợp lý - thực thể Âu Lạc đó vào dòng lịch sử Việt Nam khoảng nửa cuối thế kỷ III đầu thế kỷ IV trc.CN.

 

Trước đó nữa, là “thời đại các Vua Hùng” nửa huyền tích, nửa lịch sử, mà người đầu tiên ghi thời đó vào biên niên sử Đại Việt là Hồ Tông Thốc (Đại Việt Thế chí, Cương, mục) rồi tác giả khuyết danh Đại Việt sử lược ở khoảng cuối thế kỷ XIV và sau này Ngô Sĩ Liên tác giả đầu tiên của Đại Việt sử ký toàn thư ở nửa cuối thế kỷ XV, đời vua Lê Thánh Tông.

 

03. Có một thực thể văn hoá làm bệ đỡ cho những suy luận về thực thể xã hội Âu Lạc - Việt cổ, đó là Thực Thể Đông Sơn với những trống đồng loại I Heger nổi tiếng mà trống đồng Cổ Loa phát hiện năm 1982 là một trong ba chiếc trống sớm nhất và đẹp nhất cho đến nay ta biết: Ngọc Lũ-Hoàng Hạ-Cổ Loa.

 

03.1. Như đã biết, vùng Cổ Loa (nghĩa rộng) là vùng cao cuối cùng ở dãy núi Tam Đảo (Tây Bắc) mở ra vùng trũng Đông Ngà-Từ Sơn mà gờ bên kia (Đông Nam) là dải núi Tiên Du-Phật Tích.

           

Khi mực nước biển còn thấp, châu thổ đất liền còn tràn ra tới vùng đảo Bạch Long Vĩ hiện nay, thì con người cuối thời Đá cũ (giai đoạn Sơn Vi, khoảng 20.000 năm cách ngày nay) đã cư trú ở khu vực Cổ Loa (“đường Cấm Xứ, gò Thư Cưu…là những thềm sót bậc 1) chữ của các nhà địa lý học Lê Bá Thảo, Dương Đạt Tam) ở miền Đầm Cả, phía Đông thành Cổ Loa ngày sau.

 

03.2. Khi biển tiến và có thể do khí hậu thay đổi (lạnh hơn, xem Hà Văn Tuấn, Trần Quốc Trị), các cộng đồng người cuối thời ĐÁ CŨ – THU LƯỢM rút về miền núi non-thung lũng phía Đông Bắc và Tây Bắc-Tây Nam châu thổ hiện tại. Ở đó, họ sáng tạo ra các nền văn hoá Hoà Bình-Bắc Sơn, tiền Đá Mới và Đá Mới (trên dưới 10.000 năm cách ngày nay). Cụm di tích Hoà Bình/Bắc Sơn gần châu thổ nhất, gần Cổ Loa nhất là cụm di tích Hương Sơn (Mỹ Đức-Hà Tây), niên đại C14 khoảng trên 11.000 B.P.).

           

Lúc ấy, bắt đầu khúc nhạc dạo (Prelude) cuộc “cách mạng Đá Mới” (khái niệm của Gordon Childe) trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa mà thành quả của văn hoá vĩ đại nhất là sự ra đời của Nghề nông-trồng trọt-chăn nuôi nhỏ) ở vùng thung lũng chân các dải núi đá vôi Kcac-xtic. Người ta còn gọi đó là thời đại Đá-Nông (Agrolithic), bước mở đầu của cả một chặng đường lịch sử văn hoá/văn minh nông nghiệp dày đặc ngàn vạn năm.

           

Chặng đầu này, gọi là văn hoá Núi, không/chưa tìm thấy di tích ở Cổ Loa. Nó cũng xuất hiện ở một vài miền ven biển, nhất là miền Trung Bộ với Cái Bèo (Cát Bà), Giáp Khẩu (Hạ Long), Bàu Dũ (Quảng Nam) và nhất là cácvăn hóa biển Quỳnh Văn-Pàu Tró ở ven biển các tỉnh Bắc Trung bộ.

 

03.3 Văn hoá Châu thổ, trong đó có Cổ Loa, chỉ thực sự hiển hiện cách đây trên dưới  4 ngàn năm. Nói thu hẹp và biểu tượng hoá, thì đó là nền văn hoá Lúa, văn hoá Đông Nam Á cổ hay/và văn hoá Việt cổ mà GS Phạm Đức Dương đã thâu gom ý kiến của học giả liên nghành Việt Nam gọi là Cơ tầng Đông Nam Á trong phức hệ văn hoá Việt nam.

 

03.3.1 Bốn ngàn năm cách ngày nay… là một nhịp thời gian trội vượt của miền đất nước ta trong bối cảnh chung Đông Nam Á.

           

Lịch sử ở đây diễn ra những quá trình phát tán hội tụ dẫn đến những phức thể văn hoá mới, chung cho toàn vùng nhưng cũng mang nhiều sắc thái địa phương:

Hội tụ Đông Sơn-Sa Huỳnh, Đồng Nai…

 

Một đặc trưng nổi bật của văn hoá Đông Nam Á, nói theo thi ngữ của người Indonesia là Bhinneka Tunggal Ika: THỐNG NHẤT trong ĐA DẠNG …

 

03.3.2 Các bước Hội tụ:

 

+ Phùng Nguyên – Bàu Trám – Cù Lao Rùa

 

+ Đồng Đậu - đồi Ma Vương – Cái Vạn

 

+ Gò Mun – Xóm Cồn - Dốc Chùa

 

+ Đông Sơn - Xa Huỳnh - Giồng Phệt

 

Bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước, mà quá trình hội tụ cũng bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau (các địa danh nêu trên chỉ có ý nghĩa giả định, biểu trưng) nó không mang tính tiến hoá đơn tuyến mà là hình thành trong sự tiếp xúc, đan xen, giao thoa văn hoá nhiều chiều, tạo nên những điểm/trục/hệ đồng quy, tạo thành những cấu trúc văn hoá -  tộc người đa thành phần. Không nên giản đơn hoá, chẳng hạn trống đồng Đông Sơn = Lạc Việt.

           

Kết quả là:

 

a) Tính đa dạng ngày càng mở rộng trong không gian

 

b) Tính bản chất mẫu số chung được tiềm ẩn sâu trong thời gian, trong vô thức dân gian nối tiếp nhau, đắp đổi nhau qua thời gian và…

 

c) Tác động qua lại giữa chúng tạo nên một cơ chế tổng hoà phát sinh – phát triển của những Nhà nước/Nước sơ khai (Âu Lạc chẳng hạn) và của cả khu vực Đông Nam Á.

 

03.3.3. Với những thành tựu nghiên cứu khoa học đa/liên ngành mấy chục năm vừa qua, ta có thể hình dung bức tranh toàn cảnh và/với Diễn trình lịch sử hai thiên niên kỷ trước CN trên đất nước ta, và đặc biệt ở Bắc bộ, để cho sát gần hơn với đề tài Cổ Loa là như sau:

 

+ Việt Nam gần như ở trung tâm Đông Nam Á (Yver La Coste) hay là một Đông Nam Á bán đảo, “thu nhỏ” (enen mini ature, cả lục địa và hải đảo), có 3 thành phố văn hoá núi-đồi-châu thổ-văn hoá ven biển và biển, có nhiều tộc người thuộc các lữ hệ  Nam Á ( austroasiatic) Nam Đảo (austronesian), Tạng - Miến (tibeto-burmefe)… từ trước CN đã là như thế, nay càng như thế.

           

Đấy là những cộng đồng người làm nương-rẫy, làm ruộng-nà… đi săn và hái lượm, câu cá và chài lưới sông biển, được hình thành trong quá trình khai phá vùng bán đảo Đông Dương (Indochine)

 

+ Như trên đã nói, từ hai thiên niên kỷ trước CN đã diễn ra quá trình hội tụ văn hoá- tộc người ở châu thổ Thao-Nhị-Hồng, cũng là quá trình hình thành ngôn ngữ tiền Việt-Mường (Phùng Nguyên-Đồng Đậu) rồi Việt-Mường chung (Gò Mun-Đông Sơn) trên cơ sở tác động qua lại, giao thoa của ba dòng ngữ hệ chủ lưu:

 

Môn-Khơ me cổ (từ Tây Nam lên, Tây Bắc xuống)

 

Tày-Thái cổ (từ Bắc, Tây, Đông xuống)

 

Mã Lai cổ (từ biển ngược sông lên)

 

(không phải không có sự tham gia của các yếu tố ngôn ngữ - văn hoá Tạng Miến và xa hơn, thảo mạc (steppic). Ta gọi chung những cư dân Sơ kỳ thời đại Kim khí đó là NGƯỜI VIỆT CỔ.

           

+ Đến nửa cuối thiên niên kỷ 2 và cả diễn trình thiên nhiên kỷ I trước Công nguyên tính đến những sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá, hội nhập văn hoá giữa Đông Nam á với thế giới Trung Hoa, Ấn Độ.

 

Nhiều hiện vật của văn hoá Thương – Ân (thế kỷ XVI trước Công nguyên) đã tìm thấy ở châu thổ Bắc bộ, giai đoạn Phùng Nguyên từ An Đạo (Phù Ninh, Vĩnh Phú) đến Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

 

+ Vùng “vịnh Hà Nội” cổ trở thành nơi hội tụ và giao thoa tộc người – văn hoá – ngôn ngữ với nhịp điệu ngày càng nhanh và mạnh.

 

+ Do sức ép của sự phát triển dân số vùng núi và chân núi trên các thềm cổ quá hẹp của các dòng sông.

 

Do sức ép “dồn toa” của bành trướng văn minh Hoa Hạ từ phương Bắc xuống.

 

Đặc biệt, do sự kích thích của năng suất lúa nước, đã được thể nghiệm thành cồn ở vùng thung lũng với mô hình Tày – Thái cổ “mương-phai” “nà-rẫy” với cuộc sống tương đối ổn định của văn hoá – xã hội nông nghiệp lúa nước, cần phát triển đại trà xuống miền châu thổ.

 

Thế là có sự thiên cư, chuyển cư rồi/và cộng cư của các cộng đồng tộc người trên Núi xuống, từ dưới Biển lên, mật tập chung vùng đất Tổ (Vĩnh Phú - rồi xuống vùng Hà Nội cổ… Tụ thuỷ, tụ nhân, tụ LÀNG rồi tiến lên tụ NƯỚC…

04. Riêng ở vùng Cổ Loa (nghĩa rộng) sau mấy chục năm nghiên cứu, điều tra, khai quật khảo cổ học, ta có thể xác lập được một hệ thống di tích văn hoá khảo cổ học phân bố theo không gian đôi bờ các con sông và theo trình tự thời gian lịch sử như sau: (đây chưa phải là thống kê đầy đủ)

 

TÊN DI TÍCH VĂN HOÁ

ĐỊA ĐIỂM HIỆN NAY

NIÊN ĐẠI TƯƠNG ĐỐI VÀ TUYỆT ĐỐI

ĐÔI BỜ HUYỆN NGŨ KHÊ

 

 

Đồng Vông

Cổ Loa, Đông Anh

Phùng Nguyên

Xuân Kiều

Dục Nội, Đông Anh

(khoảng 3500 năm cách ngày nay)

Tiên Hội

Đông Hội, Đông Anh

 

Bãi Sặt

Tiên Hội, Bắc Ninh

Đồng Đậu

Bãi Mèn (lớp dưới)

Cổ Loa, Đông Anh

(khoảng 3.300 năm cách ngày nay)

Đình Chàng

Dục Tú, Đông Anh

Thành Dền

Mê Linh, Vĩnh Phúc

 

Đình Chàng (lớp trên)

Dục Tú, Đông Anh

Gò Mun(khoảng 3000 năm cách ngày nay)

Bãi Mèn (lớp trên)

Cổ Loa, Đông Anh

Đường Mây

Cổ Loa, Đông Anh

 

Xóm Nhồi

Cổ Loa, Đông Anh

 

Xóm Hương

Cổ Loa, Đông Anh

Đông Sơn

Mả Tre

Cổ Loa, Đông Anh

(từ khoảng 2500 năm đến 2000 năm cách ngày nay)

Xóm Thượng

Cổ Loa, Đông Anh

Đình Tràng (mộ)

Dục Tú, Đông Anh

Chi Long

Yên Phong, Bắc Ninh

Quả Cảm

Yên Phong, Bắc Ninh

 

Lỗ Giao

Liên Hà, Đông Anh

 

ĐÔI BỜ TIÊU TƯƠNG

 

 

Tiêu Sơn

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Bãi Tự

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Chùa Lái

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Thùng Lò

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Vườn Mao

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Đồng Miễu

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Đồng Gio

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Đồng Bạch

Yên Phong, Bắc Ninh

Phùng Nguyên

Phù Lưu

Tiên Sơn, Bắc Ninh

Đồng Đậu

Núi Viềng

Tiên Sơn, Bắc Ninh

 Đông Sơn

Chùa Hoa

Tiên Sơn, Bắc Ninh

 Đông Sơn

ĐÔI BỜ SÔNG CẦU

 

 

Đồng Lâm

Hiệp Hoà, Bắc Giang

Đồng Đậu

Nội Gầm

Yên Phong, Bắc Ninh

Gò Mun

Quả Cảm

Yên Phong, Bắc Ninh

Đông Sơn

Đôi bờ Thiên Đức (Dâu-Đuống)

 

 

Lãng Ngân

Gia Lương, Bắc Ninh

Đông Sơn

Đình Tổ

Thuận Thành, Bắc Ninh

Đông Sơn

Đồng Lầm

Thuận Thành, Bắc Ninh

Đông Sơn

Đồng Nội

Thuận Thành, Bắc Ninh

Đông Sơn

Trung Mầu

Gia Lâm, Hà Nội

Đồng Đậu (có Gò Mun ở dưới)

Yên Việt

Gia Lương, Bắc Ninh

Đông Sơn

 

Chính ở thời điểm Đông Sơn giai đoạn muộn (một hai thế kỷ trước sau Công Nguyên) mà ở Cổ Loa chứng kiến sự ra đời của hệ thống thành luỹ hào, và gắn với Nó là nhà nước Âu Lạc và những người thừa kế.

 

III. Kinh tế xã hội:

 

Môi trường Cổ Loa như những phần trên ta thấy, là nơi nhiều thế hệ người Việt cổ (tiền Việt Mường-Việt Mường chung - Lạc Việt, Âu Việt) sinh sống, bao gồm mọi thành tựu thực hiện ở Cổ Loa để cải thiện số phận con người.

 

1. Dân cư và dân số:

 

1.1 Theo địa lý học lịch sử (xem Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Đinh Văn Nhật…) thì ở thời đại các vua Hùng, tức khoảng thiên niên kỷ thứ I trước CN vùng Cổ Loa thuộc bộ Tây Vu (sau này là huyện Tây Vu thời Nam Việt – Tây Hán đầu Đông Hán). Cũng có người (xem Dương Tất Từ) căn cứ vào huyền thoại núi Thất Diệu (tức hệ núi Sái – Yên Phụ) ở Thuỵ Lôi, Đông Anh, Hà Nội và một phần Yên Phong, Bắc Ninh nay), Phong Khê (vùng đất cốt lõi của Cổ Loa nay với trung điểm là xóm Gà – Quán Kê – Phong Khê), Vọng Hải (chưa rõ, có thể là vùng bắc Đông Anh, Phúc Yên cũ cho tới sông Cà Rồ)

 

1.2 Theo Sử ký Tư Mã Thiên và Tiền Hán Thư, khi bị lệ thuộc Nam Việt của Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) thì Âu Lạc có khoảng hơn 40 vạn dân trong đó có khoảng 1 vạn quân sỹ.

 

1.3 Theo Hậu Hán Thư ghi lại lời tâu của Mã Viện xin chia tách huyện Tây Vu thì Tây Vu có 32.000 nóc nhà mà biên giới thì ở cách xa huyện trị Cổ Loa? – TQV) đến hơn nghìn dặm.

 

Nếu cũng theo thống kê của Hậu Hán thư mà đối sách:

 

Quận Giao Chỉ: 92.440 hộ (Bắc Bộ)

 

Quận Cửu Chân: 35.743 hộ (Thanh nghệ Tĩnh)

 

Quận Nhật Nam: 15.460 hộ (Trung Trung bộ)

 

Thì ta thấy Tây Vu chiếm hơn 1/3 số hộ của Giao Chỉ và gần bằng số hộ của Cửu Chân. Cũng khó mà có thể tin và tính được (do hiểu biết còn hạn chế hiện nay) mật độ dân số từng vùng cụ thể như vùng Cổ Loa cách đây vài nghìn năm.

 

Nhưng bằng và sự phân bố dày dặc các di chỉ và mộ tán cổ từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở khu vực này thì có thể nói rằng mật độ dân số Việt cổ ở vùng này cao hơn các vùng khác như ở châu thổ Bắc bộ và  Bắc Trung bộ.

 

1.4. Các di chỉ thường có tầng văn hoá dày (Đình Chàng # 1,7m, Đông Lâm # 1,5m, Đồng Đậu # 6m) và bộ hiện vật gốm, đồng, sắt đa dạng. Nó cho ta thấy lối sống định cư đã hình thành và phát triển ở vùng này.

 

2. Qua những hiện vật, người ta thấy đấy là những cư dân trồng lúa nước có đan xen chài lưới, câu cá ở sông nước - đầm đìa và hái lượm săn bắt ở nhiều cách rừng lân cận.

 

2.1 Cũng qua hiện vật, đặc biệt là đồ gốm, đồ đồng (xem Hà Văn Tấn) người ta thấy có sự hội tụ và giao thoa văn hoá tộc người từ biển lên từ núi xuống. Văn hoá Cổ Loa- Âu Lạc là văn hoá lúa nước vùng châu thổ có hội nhập yếu tố văn hoá núi, yếu tố văn hoá biển.

 

2.2. Nguồn gốc An Dương Vương Thục Phán (Tuk Phắn) và luồng di cư tới Cổ Loa giai đoạn Âu Lạc (thế kỷ III, II  TCN) cho đến nay vẫn chưa thể xác quyết được. Nhưng giả thiết ông đứng đầu một cộng đồng Âu Việt từ miền núi Việt Bắc-Tây Bắc theo lưu vực sông Hồng (nậm Tao=Thao) mà tiến xuống miền châu thổ Chạ Chủ-Cổ Loa có nhiều cơ sở khoa học đáng tin cậy.

 

2.3 Cách mạng luyện kim và trồng cấy lúa nước đại trà là sự bùng nổ dân số đi kèm với nó ở thiên niên kỷ thứ I TCN là những nguyên nhân chính có thể dùng giải thích những luồng di cư Việt cổ tới Cổ Loa.

 

2.4 Mặt khác như đã nói ở trên về danh hiệu “mở đất mở mường” của vua Âu Lạc, thì đây là thời kỳ xung đột vũ trang, hợp nhất nhiều vùng (với các hệ sinh thái nhân văn khác nhau làm thành một nhà nước quốc gia sơ khởi.

 

2.5 Vùng núi non phía Bắc Âu Lạc khi ấy cũng như Việt Nam ngày nay là vùng có nhiều mỏ đồng (Tụ Long) và mỏ thiếc (Thi toốc = Tĩnh Túc) tảng nền cho ngành khai khoáng và tiếp theo là nghề luyện kim.

 

Ngoài các nà-ruộng lúa, nương vườn trồng rau dưa và cây ăn quả, quặng mỏ và đồ kim loại là tài sản quý của đất nước. Ai sở hữu chiếm đoạt được tài sản đó, có tài năng quân chiến người ấy sẽ được lên ngôi vị tối cao.

 

2.6. Ấy là ta chưa nói đến lâm sản-thuỷ sản và sự giao lưu núi-Biển (cá, muối, măng, mộc nhĩ, nấm…) Theo lịch sử, ở đầu thời đại kim khí, chiến tranh cũng là thương mại. Trong quân đội viễn chinh của Tần Thuỷ Hoàng đế ở đương thời, sử đã chép là có rất nhiều lái buôn!

 

Cũng theo thư tịch Trung Hoa, các thủ lĩnh Việt cổ vùng dưới (Lạc Việt-Vùng ven sông biển) có nhiều ngọc trai (Châu) là vật quý giá đem đổi trác được trong luồng giao thương quốc tế. Và do vậy, con cái của các thủ lĩnh Việt cổ, nhiều người được đặt tên là Châu. Cư dân vùng ven biển Hạ Long ngày nay phát âm là chữ “Giâu” )

 

Tên Mỵ Châu (nàng Ngọc Trai) con gái vua Âu Lạc cũng có một cội nguồn là như vậy. Sau này khi nước Âu Lạc bị diệt vong, huyền tích và lịch sử hoà quyện vào với nhau, đều nói và viết rằng: Ông vua gốc miền núi này đã đem con gái ra biển và sau khi chém con gái, ngài dùng sừng tê bảy thước để đi vào với biển.

 

Cổ Loa- châu thổ tự nó là cầu nối giao lưu Núi-Biển.

 

3. Theo các nhà địa lý học, nếu trung điểm của các vua Hùng là Việt Trì, đỉnh cao nhất của tam giác châu Bắc Bộ thì Dâu – Cổ Loa là cái đỉnh thứ 2 của tam giác châu thổ ấy.

 

Sự chuyển giao lịch sử giữa Vua Hùng –Thục Phán, Xét về mặt địa - sử (Leo-historic âu Lạc chính là sự chuyển dịch trung tâm của đất nước Việt cổ, từ đỉnh nhất xuống đỉnh nhì của châu thổ Bắc Bộ, theo sự phát triển của nghề nông trồng lúa nước và sự tăng trưởng dân số.

 

3.1. Xét về mặt nền tảng kinh tế, phùng nguyên-đất Tổ Trung Du đã có bước nhảy vọt về kỹ thuật gieo trồng, tưới tiêu và thuần hoá kỹ thuật bộ giống cây trồng (cây ăn hạt, cây ăn quả và rau).

 

Ở Cổ Loa lớp phủ phong hoá thổ nhưỡng thành tạo do thuỷ văn nên đưa tới những khả năng tăng vụ cho nông nghiệp. Sử chép: “Giao chỉ cấy lúa 2 mùa”. Khảo cổ học và nông học chỉ ra rằng: “các vỏ trấu ở di chỉ Đường Mây nằm dưới luỹ thành Ngoại ở Cổ Loa (khu vực Đông, trại xóm Vang) có 2 loại: lúa Mùa: hạt tròn mẩy – lúa Chiêm: hạt thon dài.

 

3.2. Gắn liền với trồng trọt khảo cổ học đã chứng minh rằng Cổ Loa đã từng là - khoảng trước sau công nguyên - một trung tâm luyện kim đồng sắt quan trọng.

 

Với hàng trăm lưỡi cày đồng Cổ Loa cùng các loa xẻng cuốc… nhiều cái mới chỉ là bán thành phẩm và nhiều cái khác chỉ là phế phẩm chứng tích hữu thể (tangible) của công nghệ đúc-rèn tại chỗ.

 

Với hàng vạn mũi tên đồng Cổ Loa (lần đầu tiên tìm thấy năm 1966 ở Đường Vực- Bãi Mèn, lối đi rẽ từ quốc lộ 2 vào khu di tích Đền – Am – Đình Chùa Cổ Loa hàng bó mũi tên đồng dính chặt với nhau (bán thành phẩm và phế phẩm) cũng nói lên rằng việc đúc mũi tên đồng được tiến hành tại chỗ, ở ngay rìa thành Ngoại Cổ Loa.

 

Với hàng chục đồ sắt cổ Rìu, cuốc… đã han rỉ cùng năm tháng, song lại nằm cùng chỗ với những đồng tiền Bán Lạng trong vuông (lỗ) ngoài tròn (vành) của thời Tần – Hán Trung Hoa (thế kỷ III-II TCN).

 

3.3. Những đồng tiền ấy và nhiều chứng vật khác và gốm in văn Chiến Quốc, về Bình Hồ chiến quốc-Hán (V-III, II TCN) mà quan hệ giao lưu như sử chép giữa miền GIAO (Bắc bộ Việt Nam) - QUẢNG (Quảng Đông, Quảng Tây) và xa hơn với Kinh Châu (ở ngã ba Hán Khẩu-sông Hán đổ vào Trường Giang) với Dương Châu (hồ Động Đình và hồ Bàng Lão – Phiên Dương Hồ)… là chứng cớ hữu thể và vô thể (intangible) của một nền nội/ngoại thương nghiệp ở khu vực Cổ Loa trước sau Công nguyên vài thế kỷ.

 

Ấy là chúng ta chưa kể đến các huyền thoại, huyền tích về ông Nỏ (cao Lỗ - tướng của An Dương vương), ông Nồi (Nội hầu, gốc Tam Canh về Xuân Canh giáp Cổ Loa sinh sống, phát triển nghề gốm), ông Trọng (Đức Thánh Chèm, Từ Liêm, Hà Nội) đều được chất kết dính huyền sử gắn với thời huyền sử Thục An Dương Vương tên Phán.

 

Về cơ bản, huyền tích về các ông này đã cung cấp, đáp ứng được nhiều nhu cầu tâm linh người Việt xưa nay. Chế độ mẫu hệ đã đổi thay sang chế độ phụ hệ dần dần. Cơ tầng người Việt cổ là mẫu hệ. Cơ tầng tồn tại xã hội thời Tần – Hán thời An Dương Vương Thục Phán vẫn là mẫu hệ. Sau Tần Hán dù đã giải thể cấu trúc để trở thành phụ hệ thì bà Trưng bà Triệu còn đó là minh chứng cho mảnh áo mẫu hệ Đông Nam Á được vá vào áo phụ hệ Hoa hoá.

 

Cư dân Việt Mường chung do yêu cầu thuỷ lợi trị thuỷ đào ao và đắp đê và để bảo vệ vùng đất màu mỡ này, chống sự chèn ép từ phương Bắc xuống, đã liên kết lại trong một hệ thống chính trị gồm nhiều “Bộ” hay “Mường”. Mỗi bộ/mường đứng đầu bằng một thủ lĩnh quân sự “Lạc tướng” và hệ thống cấu trúc chính trị xã hội đó do tù trưởng/thủ lĩnh của bộ/mường lớn, có ưu thế về kinh tế, quân sự, tôn giáo đứng đầu. Người ấy là “siêu thủ lĩnh” (overlord), là “Pò Khun” Là vua Hùng và sau này cũng là Thục Phán (Túk Phắn) mà sử Hán Việt về sau đã Hán Việt hoá các danh hiệu này thành: Lạc tướng, Lạc hầu, Lạc/Hùng Vương, An Dương Vương, Tây Vu Vương…

 

Nếu làng Cả trên đồi Việt Trì là trung tâm đất Tổ các vua Hùng thì làng Chủ - chạ Chủ = Khả Lũ – Kim Lũ – Cổ Loa (các địa danh diễn triển qua lịch sử) là trung tâm nước Âu Lạc thời Vua Thục Phán.

 

Huyền tích nói rằng: vua Thục xây thành Cổ Loa. Thành đắp rồi lại đổ do nhiều thế lực – đời thường và “ma quỷ”, sau nhờ thần Rùa Vàng-Kim Quy trừ yêu quái, Vua Thục đã cùng Tướng Cao Lỗ/Cao Thông đắp được thành, chế tạo được nỏ (“nỏ thần”: “chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan, chỉ ngàn ngàn cháy…” huấn luyện hàng vạn quân sỹ.

 

Cổ sử Trung Hoa và Việt Nam – từ thế kỷ IV, V đến các thế kỷ XIV, XV và sau này nữa đều nói các Vua Thục An Dương Vương xây thành hình xoáy ốc tên chữ là Loa Thành. Thành xây 9 lớp chu vi 9 dặm…

Từ René Desf (1940) đến Phan Huy Lê (1966) các học giả vẫn nhận ra ở Cổ Loa 3 lớp thành:

 

Thành Nội có hình chữ nhật (tương đối) với 18 ụ đất (“hỏa hồi” đắp nhô ra thụt vào tạo nên các tử giác (góc chết) xa nhau vừa một tầm tên bắn (# 300m ý kiến tướng quân Chánh văn phòng Bộ Quốc Phòng Nguyễn Trình), chu vi tổng cộng # 1650m

 

Thành Trung chu vi # 6500m

 

Thành Ngoại chu vi # 8000m là “những đường cong tự do” khép kín lại với nhau và hẹp dần về phía cửa Nam, để mở cửa nước (Watergate) ở hướng Đông (phía Đầm Cả) và mở thêm cửa đường bộ ở hướng Bắc, Tây Bắc, Tây Nam…

 

Trong lũy ngoài hào bao bọc từ Tây Bắc đến Đông Nam thành Cổ Loa là con sông Thiếp.

 

Ngoài 3 vòng thành còn có nhiều ụ lũy bảo vệ, chủ yếu đào đắp ở phía bắc thành.

 

Những cuộc điều tra điền dã khảo cổ ở khu vực Cổ Loa từ đầu thập kỷ 70 qua cuối thập kỷ 80 đã có lẽ chứng tỏ rằng sự tình không đơn giản như trên đã trình bày.

 

Địa hình âm sông, rạch đầm hồ ở khu vực Cổ Loa chằng chịt, phức tạp hơn nhiều: vực Dê, đầm Chủ, đầm Cả, vực Tó, đầm Vân Trì, sông Thiếp đến Cổ Loa đã phân thành nhiều nhánh (Đường Mây là ở ngã ba sông) làm 2 rồi sau khi qua “ba làng Quậy, bẩy làng Rỗ (Lỗ) lại hợp nhất về phía sông Cầu.

 

Địa hình Dương, khu vực Mạch Tràng, đền Thượng là một cái mộc (buclier) rắn mà các sông lạch gặm mòn nó dần dần song vẫn buộc phải chảy vòng vo… có lẽ thành Cổ Loa không chỉ có 3 vòng thành lũy như ta từng mô tả mà là một “phức lũy thành” vừa đóng vai trò quân sự vừa có vai trò trị thủy, thủy lợi (đê, trạch).

 

Cuối cùng nếu không quá xét nét, giáo điều, ta vẫn có thể coi Cổ Loa là một thành thị, một thủ đô thành thị (Citadel – Capitale), một đô thị (City) vào loại cổ nhất Việt Nam và Đông Nam Á.

 

(*) Phần viết dưới đây có sự cộng tác của Tiến sĩ địa mạo học Huỳnh Thị Ngọc Hương và cử nhân sử học Vũ Hữu Minh

 

Theo Hà Nội như tôi hiểu - GS. Trần Quốc Vượng, Nxb Tôn Giáo, 2005, tr5-42

Lịch sử Việt Nam qua Bản đồ

đăng 02:25, 11 thg 10, 2011 bởi Tuan Doan Minh   [ đã cập nhật 07:48, 29 thg 12, 2011 ]


Lịch sử một dòng họ không tách rời Lịch sử của một quốc gia
Trước tiên khái niệm về thời gian được giải thích :

Công Nguyên, viết tắt CN, là kỉ nguyên bắt đầu bằng năm theo truyền thống được cho là năm sinh của Chúa Giêsu. Các năm trước đó được gọi là trước Công Nguyên (TCN) hay trước Tây lịch (TTL).

Chữ tương đương với Công Nguyên trong tiếng LatinhAnno Domini, viết tắt AD hay A.D., nghĩa là Năm của Chúa hay Kỉ nguyên Kitô

Hiện nay còn có chữ viết tắt CE (Common Era) thay thế cho AD và được đặt sau số năm, ví dụ 128 CE

Trước Công Nguyên trong tiếng Anh là Before Christ (Trước Chúa Kitô), viết tắt BC, được đặt sau số năm, ví dụ 320 TCN. Ngoài ra còn có cách viết khác không phổ biến lắm, khi người dùng không muốn nó mang sắc thái tôn giáo liên quan đến Chúa Kitô, là BCE (Before Common Era), nó cũng được đặt sau số năm, ví dụ 320 TCN.

Chữ Công Nguyên trong tiếng Việt xuất xứ từ tiếng Hoa 公元, viết tắt từ chữ Công Lịch Kỉ Nguyên (Hoa phồn thể: 公曆紀元; Hoa giản thể: 历纪元) nghĩa là Kỉ nguyên dùng lịch chung, chứ không phải là Kỉ nguyên Công giáo như nhiều người thường hiểu lầm. Chữ Công trong Công lịch mang nghĩa Chung

Chuyện Âu Cơ - Lạc Long Quân là một chuyện di tản hằng khối, hoặc chuyện cố gắng hợp chủng, của hai chi chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc), đều có mặt tại địa bàn nước Sở thời xưa. Sở ở thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu. Sở, trước khi bị nước Tần thôn tính vào năm 221 TCN, bao gồm hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay, và chung quanh Hồ Động Đình, lan rộng đến bờ biển phía Đông. diễn biến câu chuyện từ khi Kinh Dương Vương xuất hiện, hoàn toàn xảy ra sau năm 1000TCN. Tức chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân chỉ là chuyện di tản hai chủng Âu và Lạc xuống đồng bằng Bắc Việt khi sức ép khủng bố của chủng Hoa nguyên thủy quá sức dữ dằn.


Người Sở có gốc chủng Thái. Người Mường cũng vậy. Và rất nhiều bộ tộc Mường khởi xuất di tản từ Sở, vào thời loạn lạc của Đông Chu liệt quốc. Họ chạy xuống phía Nam, hội nhập với đồng chủng tại các xứ ven biên giới Việt Hoa ngày nay như: Tây Âu (tức Âu Việt) và Điền Việt (tức Nam Chiếu). Rồi sau đó theo với truyền thuyết, và cũng theo cổ sử Tàu, đặc biệt quyển Hoài Nam Tử của Liu An, họ vẫn bị quân Tần rượt bén nút. Việc bỏ sót quan sát nước Sở như một cái nôi của dân Việt có lẽ bắt nguồn từ chỗ cổ sử Việt mang nặng ảnh hưởng của sử sách Tàu. Sử sách Tàu luôn cố ý che đậy việc khác chủng giữa Hoa tộc với các nhóm 'rợ thật tiến bộ', như Sở, Ngô, Việt (Câu Tiễn), Bộc Việt


Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía nam thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ Phủ. 


Nhà Đường năm 700

Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập nên một nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam Quốc.

Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: 

1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên) 
2. Châu Diên (Sơn Tây) 
3. Phúc Lộc (Sơn Tây) 
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang) 
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng) 
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh) 
7. Lục Hải (Lạng Sơn) 
8. Ninh Hải (Quảng Yên) 
9. Dương Tuyền (Hải Dương) 
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình) 
11. Cửu Chân (Thanh Hóa) 
12. Hoài Hoan (Nghệ An) 
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh) 
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị) 
15. Bình Văn ( ? ) 



Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam. Vua Minh Mệnh lại cải làm Đại Nam. 



Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta vẫn theo thói quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải thần phục nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước nhà.


 


Quốc kỳ Việt Nam qua các thời kỳ 

1. Long Tinh Kỳ (1802-1885) : Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn

Long Tinh Kỳ

Đối chiếu với các tài liệu được tham khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đã được đặt tên bằng tiếng Hán là “Long Tinh Kỳ”. (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam: Ý nghĩa của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ. Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới.)

 

2. Đại Nam Quốc Kỳ (1885-1890)

Đại Nam Quốc Kỳ

 

Đây là hình lá cờ Đại Nam của triều đình Đồng Khánh, được tìm thấy qua tài liệu của người Tây phương.

 

 

3. Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 – 1920

Cờ Vàng Ba Sọc đỏ

Nền vàng.
Ba sọc đỏ bằng nhau biểu hiệu Bắc Nam Trung bất khả phân.
Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ – gọi tắt là “Cờ Vàng” – là lá “quốc kỳ” đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, vì nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lãnh thổ Việt.

Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng:

- Thể hiện ý chí đấu tranh, bác bỏ hiệp ước Quý Mùi, “chia để trị” của thực dân Pháp, đã tao ra tình trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung Bắc kỳ bảo hộ.
- Xác quyết sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Nam Quốc, ba miền đều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nền tảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phương Nam.
- Nêu cao tinh thần “quốc gia dân tộc”, bằng cách đoạn tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và triều cống Tàu.

Chính vì các ý nghĩa trên mà lá cờ Vàng còn được mệnh danh là cờ “Quốc Gia”. Như vậy, từ ngữ “quốc gia” có từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch với “thuộc địa”, chớ không chỉ mới có vào bán thế kỷ 20 khi từ ngữ “cộng sản” xuất hiện.

4. Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp

Long Tinh Kỳ

Long Tinh Kỳ (1920 – 10 Mar, 1945).
Nền vàng. Một sọc đỏ lớn.
Biểu tượng cho Bắc và Trung kỳ mà thôi.
10-3-45 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ Pháp

Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng được gọi là cờ “Long Tinh”, vì nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn. Nền vàng có hình chữ nhật tương tự như quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ được kéo dài ra thành sọc đỏ ở giữa. Tua xanh không còn nữa. Đây là lá cờ biểu hiệu cho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm 1925. Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho “Hội Đồng Phụ Chính” với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tục dùng làm biểu tượng của triều đình Huế, lúc bấy giờ chỉ còn thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sự bảo hộ của Pháp.

5. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp)

Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa

Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 – Mar 10, 1945)
Nền vàng
Cờ Tam Tài, màu xanh trắng đỏ nằm trên góc trái.
10-3-45: Nhật đảo chính Pháp
Cờ này tồn tại đến 10-3-45 thì cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương.

 

 

 

6. Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương, 11 tháng 3, 1945 – Aug 1945

Long Tinh Đế Kỳ

Long Tinh Đế Kỳ (11 Mar – 30 Aug, 1945)
Nền vàng,
Sọc đỏ bằng 1/3 cờ.
11-3-45: Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành Đế Kỳ
30-8-45: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung.

Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc gia Tây Phương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cương vị của Đế Kỳ, chỉ treo nơi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cũng tương tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưng nền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim.

6. Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương

Cờ Quẻ Ly

Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11 Mar – 5 Sep, 1945)
Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi giống hình Quẻ Ly
Quốc kỳ chính thức thời Nhật, đồng thời với Long Tinh Kế Kỳ

Để biểu trưng cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, Bảo Đại ký sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đã chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ được chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa thì đứt khoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong bát Quái.

7. Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”

Cờ Mặt Tr�n Việt Minh

Cờ Mặt Trận Việt Minh (5 Sep, 1945 – 20 Dec, 1946)
Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong.
5-9-45: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly.
20-12-46: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ.

- Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh. Đến 20-12-46, Pháp chiếm được Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến. Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn Việt Minh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế “quốc kỳ” kể từ ngày 20-12-46 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20-7-1954 là ngày đất nước chia đôi và Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.

8. Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời “Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc”

Cờ Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc

Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1 Jun, 1946 – 2 Jun, 1948)
1-6-46: Nam Kỳ CH Quốc trong Liên Bang Đông Dương.
Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng
2-6-48: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền.

 

 

9. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của “Việt Nam Quốc” và “Việt Nam Cộng Hòa”

Cờ VÀng Quốc Gia Việt Nam

Cờ Vàng Quốc Gia VN (2 Jun, 1948 – 20 Jul, 1954)
2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920.
20-7-54: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến 30-4-75.

 

 

10. Cờ Đỏ Sao Vàng

Cờ Đỏ Sao Vàng

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 2 tháng Ba năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ của nước Việt Nam. Cờ đỏ sao vàng tồn tại từ đó cho đến nay.

 

 

1-2 of 2