Bài viết của Bác Bí Bét

đăng 00:00, 15 thg 11, 2011 bởi Tuan Doan Minh   [ đã cập nhật 00:01, 15 thg 11, 2011 ]
Thưa các bác: 

Đã từ lâu tôi muốn viết một bài khảo luận về nước Nam Giao mà lắm bạn đọc mê truyện chưởng Kim Dung biết qua là nước Đại Lý có những nhân vật như Đoàn Nam Đế (Nhứt Đăng Đại Sư) qua bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Đoàn Chính Thuần và Đoàn Dự trong bộ Lục Mạch Thần Kiếm & Thiên Long Bát Bộ...; thực tế Nam Giao là một vương quốc có thật, họ lập được nước Nam Giao cả 200 năm trước khi nước Việt Nam giành được độc lập từ nhà Nam Hán (737 vs 939 sau Công Nguyên). Theo tôi nghĩ, nếu không có nước Nam Giao thì dễ gì ông bà chúng ta dành được độc lập từ người Tàu, sau hơn cả 1,000 năm nước mình bị lệ thuộc và xem là một quận/huyện của Trung Hoa! Vì hoàn cảnh nào mà một dân tộc và đất nước kiêu hùng như Nam Giao/Đại Lý đã thành hình rồi mai một vào lịch sử....; Mời các bạn tham khảo và từ từ góp ý... vì Bí Bếp sẽ dán từ từ cho đến khi kết thúc bài viết nầy..! 

Nước Nam Giao (có lúc sử/truyện mình còn gọi là Nam Chiếu), đôi khi còn viết là Điền Việt trước khi triều Đại Lý do Đoàn Tư Bình thay thế vào năm 902 sau Công Nguyên. Nước Nam Giao trước kia nằm ở khu vực tỉnh Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên của Trung Hoa mà lúc sung mãn nhất vương quốc Nam Giao bắc giáp ranh với nước Thu Bồn, nam chiếm cả Miến Điện và Giao Châu (Bắc Việt) vào thế kỹ thứ 9 (năm 858), phía đông họ chiếm cả Ung Châu và Thành Đô (Chengdu) của nhà Đường. Nếu dựa theo huyền sử thì có lẽ chúng ta cũng có thể liên đới đến chuyện Lạc Long Quân dắt 50 người con xuống biển, nếu Âu Cơ dắt 50 người con lên núi (miệt Lĩnh Nam) thì các sắc dân của nước Nam Giao chúng ta có thể nhận là anh em của giống Việt tộc (Bách Việt) chăng? 

Như chúng ta đã biết theo lịch sử thì khu Vân Nam và miệt Nam của sông Dương Tử đã có người sống từ nhiều ngàn năm về trước mà người Hán trước đó gọi là những nhóm Tây Di, Nam Man, và Bách Việt. Các dân tộc tập trung ở khu Vân Nam trước kia đông nhất là các bộ tộc người Bạch, người Di, người Thổ, người Hmong (Mèo), người Nùng. Người Bạch thuộc nhóm dân của người Thái mà ở Việt Nam cũng còn một số sắc tộc Thái sinh sống (Thái trắng, Thái Đen, Thái Đỏ... tên gọi khởi nguồn từ màu nhuộm chính của trang phục họ mặc). Trước kia, người Bạch sống rải rác quanh hồ Nhĩ Hải (Erhai lake) một vùng đất màu mỡ ở khu vực Vân Nam. 

Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc có một vị tướng của nước Sở tên Sung Kiều, mang quân đến khu vực nầy mà lập nước có tên là Điền Việt tuy nhiên sử Trung Hoa không chép nhiều về nước Điền Việt nầy mãi cho đến thời Tam Quốc mà chính Khổng Minh Gia Cát giúp Lưu Bị dựng nước Thục (Hán) cầm quân đánh vào Nam Trung (Vân Nam) để chinh phục quân của Mạnh Hoạch và các sắc tộc mạn Nam Trung cũng chính là các dân tộc tiền thân của nước Nam Giao...; Chính nhờ hậu cứ Nam Trung cung ứng quân lương nồng cốt mà Gia Cát Lượng đã gầy dựng lực lượng để thực hiện việc tiến đánh Bắc Ngụy hầu tái lập nhà Hán có điều "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên" nên kết quả mà hầu hết quí anh chị em đã rõ mặc dù quân Tây Thục dưới sự lãnh đạo của Lưu Bị dẫu có đắt nhân tâm nhưng cũng không qua được chướng ngại thiên thời của Bắc Ngụy hoặc địa lợi của Đông Ngô để rồi họ Tư Mã cuối cùng soán ngôi nhà Ngụy, dẹp Đông Ngô và Tây Thục, thống nhất được Trung Hoa để gầy dựng lên nhà Tùy sau đó. 

Riêng vùng đất trong Tam Quốc Chí gọi là Nam Trung cũng chính là địa bàn của người Bạch, người Di là hai sắc tộc chính của khu vực Nam Giao quanh hồ Nhĩ Hãi thuộc tỉnh Vân Nam hiện nay. Sau thời Tam Quốc, khu vực nầy vẫn thuộc dạng tự trị, người Nam Giao ít bị sự điều khiển trực tiếp của người Hán. Theo Hán Sử thì người Nam Giao có sáu bộ tộc chính (Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Mông Xá, và Thi Lãng). Bộ tộc Mông Xá nằm ở phương Nam của tỉnh Vân Nam nên có lúc bộ tộc nầy còn được gọi là tộc Nam Giao. Riêng ở Trung Nguyên, sau khi nhà Tấn suy sụp vào năm 420 (sau Công Nguyên), nước Trung Hoa lại bị phân chia loạn lạc; Lưu Dự soán ngôi nhà Đông Tấn tập nên nước Tống ở phương nam, mạn bắc thì nhà Ngụy kết hợp các sứ quân thành lập Bắc Triều. Nội loạn ở Trung Hoa kéo dài cả 200 trăm năm cho đến khi Đường Thái Tổ thống nhất lại Trung Hoa để lập nên nhà Đường từ năm 618. 

Ở vùng Nam Trung vào năm 649 có một lãnh tụ tên là Tế Nô La của bộ tộc Mông Xá kết hợp được cả 6 bộ tộc mà thành lập nước Nam Giao. Tế Nô La xin triều cống và gửi con trai đến Trường An (thủ đô của nhà Đường) để làm con tin mà xin được phong vương, tuy nhiên Đường Cao Tông chỉ phong Tế Nô La chức Thái Thú của vùng đất Quế Châu (Vân Nam bây giờ). Sau đó con cháu của Tế Nô La vẫn tiếp tục giúp nhà Đường dẹp được loạn lạc ở Vân Nam từ năm 713-719, và nhà Đường hầu như giao hẵn vùng đất nầy cho người Nam Giao tự trị lấy. Đến năm 732, Bì La Cáp xin chiếu chỉ cùng Đường Huyền Tông để chính thức thống nhất các bộ tộc trong vùng mà chính thức lập thành nước Nam Giao. Trong thời gian nầy, nước Thu Bồn (Tây Tạng) đã trở nên cường thịnh và gây khó khăn cho ảnh hưởng của nhà Đường nên Đường Huyền Tông đồng ý phong vương cho Bì La Cáp hầu dùng nước Nam Giao làm bình phong để ngăn chận sự bành trước của nước Thu Bồn ở mạn Tây Bắc của Trung Hoa. Trên thực tế thì mãi đến năm 738 Bì La Cáp mới chính thức thống nhất được tất cả các bộ tộc của người Bạch và người Di ở trong vùng để xưng Vương. Như thế thì người Nam Giao đã thật sự độc lập cả 200 năm trước khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng mà dành độc Lập cho nước ta sau năm 938. 

Sau 10 năm lập nước Nam Giao, Bì Lô Cáp mất vào năm 748; con của Bì Lô Cáp là Cáp Lỗ Phong kế vì và nuôi mộng bành trướng nước Nam Giao. Trong giai đoạn nầy, mối quan hệ của Nam Giao và triều Đường ở Trường An bị suy thoái cũng do sự gian tham của thái thú Trương Đà người có trách nhiệm giữ quan hệ với Nam Giao ở vùng nầy. Trương Đà liên kết cùng các thái thú trong vùng mà làm nhục quan thần của nước Nam Giao một khi họ phải đi triều cống; một số tài liệu có ghi rằng chính Trương Đà lắm lúc còn hãm hiếp cả vợ của các sứ thần Nam Giao, một đàng Trương Đà gửi báo cáo láo về Trường An rằng vua nước Nam Giao là Cáp Lỗ Phong có ý tạo phảo Đường triều. 

Cáp Lỗ Phong nắm được tà ý của Trương Đà, ông cũng gửi thư giải bày cùng Đường Huyền Tông ở Trường An; nhưng bấy giờ Đường Huyền Tông đang đắm say tửu sắc cùng Dương Quí Phi bỏ mặc việc triều chính cho quan Tể Tướng là Dương Quốc Trung coi ngó. Dương Quốc Trung lúc đó đang dùng quyền thế lo vơ vét làm giàu nào xá gì chuyện cỏn con của đám Tây Di nên chiếu thư của Cáp Lỗ Phong không được Trường An giải quyết. Sau đó Cáp Lỗ Phong cất quân tấn công trả thù và giết được Trương Đà và tiến chiếm cả phía nam của vùng đất Tứ Xuyên. Dương Quốc Trung sau đó mới tìm cách chạy tội bằng báo cáo dối cùng Đường Huyền Tông rằng vua nước Nam Giao đã liên kết cùng nước Thu Bồn mà tạo phản mà đề nghị Đường triều nên dấy binh chinh phạt Nam Giao. Đường Huyền Tông cử 60,000 tinh binh chinh phạt Nam Giao. Cáp Lỗ Phong gửi sứ giả xin cầu hòa nhưng tiết chế của quân Đường (Xianyu...) bắt giam sứ giả và tiếp tục cất quân tiến đánh Nam Giao. 

Cáp Lỗ Phong xin hòa không được ông mới lập bàn tế trời mà thề rằng "Nếu Trung Nguyên chấp nhận tôi, tôi vẫn sẽ luôn nhận triều đình là Chúa của tôi nhưng triều đình Trung Nguyên không nhìn tôi, từ nay Trung Nguyên sẽ thành kẻ thù của tôi." Sau đó Cáp Lỗ Phong gửi sứ giả đi liên kết cùng nước Thổ Phồn để cầu viện binh, cùng lúc ông cắt con trưởng dắt kỵ binh đánh phục kích chặn kỵ binh của Đường triều; riêng ông cũng thân chinh mà điều quân tổ chức phản công quân Đường. Do sự kết hợp giữa quân Nam Giao và Thổ Phồn, quân Đường bị đại bại; Sau đó tiết chế của nhà Đường là Lý Mỹ lại tập hợp một đạo quân lớn hơn bao gồm 100,000 tinh binh + 100,000 quân tiếp vận mà tấn công Nam Giao bằng đường bộ lẫn đường thuỷ (qua hồ Nhĩ Hãi). Đạo quân của tiết chế Lý Mỹ bại đại bại ở Hạ Quan (Xiaquan); qua hai trận đánh, quân Nam Giao tiêu diệt cả 260,000 lính của quân Đường; xác chết chất thành núi mà đến ngày nay di tích Mồ Tướng ở Hạ Quan và Mã Vạn Binh (trong công viên Thiên Bảo) vẫn là chứng tích cho sự thảm bại của quân Đường ở Nam Giao. Sau khi nhà Đường bị suy yếu do 8 năm loạn dấy nên bởi An Lộc Sơn (sử chép cả 2/3 tổng số dân Trung Hoa bị chết trong thời gian nầy), Cáp Lỗ Phong đã bành trướng lãnh thổ nắm giữ cả vùng Vân Nam, một khoảng của Tứ Xuyên, phía tây của Quí Châu, bắc của Miến Điện, Thái Lan, Lào, và ngay cả miền bắc của Việt Nam thời nay. 

Về chuyện quân Nam Giao đã từng chiếm đóng Việt Nam (An Nam thời đó), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có trích theo sử Đường như sau: 

Mậu Dần, 858, (Đường Đại Trung, năm thứ 12). Mùa xuân, người Nam Chiếu kéo đến đông, đóng ở bến đò Cẩm Điền. Vương Thức khi đó là Giao Châu kinh lược đô hộ sứ, sai người đến dụ, chỉ một đêm người Nam Giao đếu lại kéo đi. Nguyên nhân do đô hộ Lý Trác tham lam tàn bạo, mua hiếp bò ngựa của người Nùng, mỗi con chỉ trả cho một đấu muối (2 lít muối), giết tù trưởng Nùng là Đỗ Tồn Thành, dân Nùng oán giận, dẫn đường cho người Nam Giao đến lấn cướp biên giới. Tháng 5 năm ấy, người Nam Giao đến cướp, Thức đánh lui được. 

Canh Thìn, 860, (Đường Ý Tông, Thôi Hàm Thông, năm thứ 1). Mùa đông, tháng 12, ngày Mậu Thân, người Nùntg dẫn quân Nam Giao hợp lại hơn 30.000 người, đánh chiếm phủ trị. 

Tân Tỵ, 861, (Đường Hàm Thông, năm thứ 2). Mùa xuân, tháng giêng, vua Đường phát quân Ung, Quản và các đạo lân cận sang cứu Lý Hộ, đánh lại Nam Chiếu. Mùa hạ, tháng 6, ngày Quý Sửu, vua Đường sai phòng ngự sứ Diêm Châu là Vương Khoan làm Kinh lược sứ An Nam. Bấy giờ Lý Hộ từ Vũ Châu thu nhặt quân người địa phương Giao Châu đánh bọn Nam Giao, lấy lại được phủ thành. 

Nhâm Ngọ, 862, (Đường Hàm Thông, năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 2, Nam Giao lại vào cướp phá. Vương Khoan mấy lần sai sứ cáo cấp. Vua Đường sai Hồ Nam quan sát sứ là Sái Tập thay thế, đem binh các đạo Hứa, Hoạt, Từ, Biện, Kinh, Tương, Đàm, Ngạc, hợp lại 30.000, giao cho Tập để chống cự. Yếu thế, quân Nam Giao rút lui. Mùa đông, tháng 10, Nam Chiếu đem 50.000 người đến cướp, Tập cáo cấp. Vua Đường sai lấy quân hai đạo Kinh Nam, Hồ Nam 2.000 người và nghĩa chinh ở Quế Quản 3.000 người đến Ung Châu chịu lệnh tiết chế của Trịnh Ngu để sang cứu Sái Tập. Tháng 12, Tập lại xin thêm quân, vua Đường sắc cho Sơn Nam đông đạo đem 1.000 quân cung nỏ sang cứu. 

Quý Mùi, 863, (Đường Hàm Thông, năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Ngọ, quân Nam Giao đánh chiếm phủ thành. Nam Giao hai lần chiếm Giao Châu, vừa giết vừa bắt gần 150.000 người. Khi rút lui còn lưu lại 20.000 quân, sai Tư Tấn giữ thành Giao Châu. Người Di Lão ở các khe động đều hàng phục cả. Vua Nam Giao cho thuộc hạ là Đoàn Tù Thiên làm tiết độ sứ phủ Giao Châu. 

Giáp Thân, 864, (Đường Hàm Thông, năm thứ 5). Mùa thu, tháng 7, vua Đường cho Cao Biền làm Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ. 

Ất Dậu, 865, (Đường Hàm Thông, năm thứ 6). Mùa thu, tháng 7, Cao Biền sửa quân ở trấn Hải Môn. Biền đem hơn 5.000 quân vượt biển đi trước. Tháng 9, Biền đến Nam Định, Phong Châu, quân Nùng gần 50.000 đương gặt lúa, Biền ập đến đánh tan, chém được bọn Trương Thuyên, thu lấy số lúa đã gặt để nuôi quân. 

Bính Tuất, 866, (Đường Hàm Thông, năm thứ 7). Mùa hạ, tháng 4, Nam Chiếu sai Trương Tập giúp Tù Thiên đánh Giao Châu, cho Phạm Nật Ta làm Đô thống Giao Châu. Giám trận nhà Đường sai Vi Trọng Tể đem hơn 7.000 quân đến Phong Châu. Biền được thêm quân, tiến đánh Nam Chiếu, nhiều lần đánh tan được. Tháng ấy, Biền đánh tan quân Nam Giao, giết và bắt sống rất nhiều. Nam Giao thu quân còn sót chạy vào châu thành cố giữ. Mùa đông, tháng 10, Cao Biền vây châu thành hơn 10 ngày, người Nùng rất khốn quẫn. Biền đến nơi đốc thúc khích lệ tướng sĩ, lấy được thành, giết Tù Thiên và Chu Cổ Đạo là người Nùng dẫn đường cho quân Nam Giao chém hơn 30.000 đầu. Quân Nam Giao trốn đi, Biền lại phá được hai động dân Nùng đã theo Nam Giao, giết tù trưởng. Người Nùng rủ nhau quy phục đến 17.000 người. 

Sau đó triều đại Nam Giao bị suy yếu và bị lật đổ vào năm 902; sau ba lần thay ngôi, Đoàn Tư Bình mới thống nhất được các sứ quân Nam Giao vào năm 937 xong đổi tên nước thành Đại Lý. Thời bấy giờ họ Đoàn của nhà Đại Lý đã chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của phái Mật Tông của Phật giáo (như triều Lý Trần ở xứ ta); Phật Giáo đã trở thành quốc giáo của xứ nầy. Đoàn Tư Bình đổi tên Đại Lý có ý là lấy giáo lý của Phật làm tên nước. Trước đó đạo Phật đã truyền sang Nam Giao qua ngã Thổ Phồn (Tây Tạng); vị vua cuối cùng của Nam Giao vì quá sùng đạo nên lơ là việc nước dẫn dắt đến sự truất ngôi, phân chia rồi được thống nhất do Đoàn Tư Bình bắt đầu triều Đại Lý. 


Bản đồ Trung Hoa vào năm 1142 AD 

Nước Đại Lý từ năm 1142 

Dòng họ Đoàn của Đại Lý kéo dài được 316 năm, truyền được 22 đời vua trong đó có 10 vị vua bỏ đi tu như Đoàn Chính Minh, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Cảnh Hưng, v.v. (nhường ngôi cho con để làm Thái Thượng Hoàng như các vua Trần ở xứ mình). 

Nước Đại Lý tuy theo đạo Phật nhưng tinh thần võ sĩ của họ vẫn khá mạnh. Ở mạn bắc quân Mông dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn cũng thống nhất được các bộ tộc mà làm mưa làm gió trên các chiến trường từ Âu sang Á. Quân Mông bị quân Đại Lý cầm chân ở khu vực hồ Nhĩ Hãi khá lâu mà vẫn không phá vỡ được sự phòng thủ của quân Đại Lý. Theo sử liệu, thì quân Mông được có sự chỉ dẫn của một người Đại Lý phải bội, giúp kỵ binh của họ vượt qua đèo ở dãy núi Thương Sơn hiểm trở bằng đường bí mật mà đánh tập hậu phá được quân Đại Lý vào năm 1274. Sự kiện nầy đã dẫn đến sự kết thúc của nước Nam Giao - Đại Lý được thiết lập sau 5 thế kỹ (738-1253). 

Sau khi quân Mông thôn tính xong nước Đại Lý, họ mới tính chuyện "mượn đường" từ nước ta mà đánh bọc lên nhà Nam Tống để thâu gọn nước Trung Hoa, mới có cuộc chiến đầu tiên của quân Mông cùng quân Đại Việt. Sau khi nước Đại Lý bị quân Mông chiếm và sát nhập vào Trung Hoa từ năm 1274 để lập nên nhà Nguyên. Suốt thời gian nước Đại Lý bị quân Mông chiếm đóng, các hoàng thân quốc thích của dòng dõi họ Đoàn vẫn tiếp tục nỗ lực kháng chiến; một số đã kết hợp cùng người Hoa mà dẹp được nhà Nguyên để thành lập nhà Minh. Tuy nhiên Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã nuốt lời mà bắt lãnh tụ người Đại Lý là Đoàn Thế phải đổi tên nước thành phủ Vân Nam và nước nầy đã trở thành một tỉnh của Trung Hoa kể từ năm 1398. 

Trong giai đoạn chống lại quân Nguyên, một số quân Đại Lý cũng đã chạy xuống mạn nam, một số hoàng thân Đại Lý từ từ thiết lập hậu cứ thành nước Lana Thái, Miến Điện, và Lào. Cũng do sự bành trướng của những nước mới thành lập nầy mà vương quốc Khmer đã bị suy đồi kể từ đó.... 

TB: Bí Bếp đã soạn dỡ bài viết nầy, mong có dịp sẽ tu chỉnh rõ ràng hơn nhất là có sự đính kèm những nguồn trích dẫn cụ thể sau. Trong lúc chúng ta góp nhặt một số bài viết mang tính cách tìm hiểu hơn là nghiên cứu ... nên mong có sự thông cảm. Bí Bếp lắm lúc suy nghĩ rằng nếu nhà Đường không bị kiệt quệ và tàn rụi sau loạn An Lộc Sơn và thất bại trong việc đối phó với nước Nam Chiếu thì liệu Việt Nam có thể "dành độc lập" từ sự điều khiển cúa Trung Hoa chăng? 
Dựa theo bối cảnh lịch sử thì nước Nam Chiếu được thành lập cỡ 200 năm trước khi Đại Việt thật sự thành công cắt lìa từ sự điều khiển của Trung Nguyên (739 AD  so với 938 AD.)  

Mặc dù dựa trên khía cạnh địa hình thì nước Nam Chiếu/Đại Lý từ mạn Vân Nam cũng chia sẻ chung biên giới với nước ta (Đại Việt) nhưng dựa theo các văn bản, thư tịch và sử Việt (từ quyển VNSL, cho đến An Nam Chí Lược, Đại Việt Sử Lược, ngay cả tập Thiền Uyển Tập Anh, v.v.) thì những bài ghi chép về sự quan hệ giữa hai nước trong khoảng thời gian ổn định của Đại Việt & nước NamChiếu-Đại Lý (1009 AD - 1257 AD) thì quá ư là... khiêm tốn.

Nhắc lại từ lúc nước Nam Chiếu được thành lập cho đến lúc nước ta tạm ổn định (chỉ sau thời Lý Thánh Tông) thì xứ ta chưa có sử chính thức vì thế mình phải dựa vào các văn bản của nhà Đường và nhà Tống để so lại thí dụ như Phàn Xước, một quan địa phương của triều Đường ở Hà Nội đã soạn một bộ "Man Thư" tổng hợp 10 quyển đã nhắc đến sự giao thương giữa An Nam & nước Nam Chiếu (khu vực tỉnh Vân Nam hiện giờ) như sau: 

“Từ An Nam đi đường thuỷ lên Phong Châu 2 ngày, Đăng Châu 2 ngày, đến Trung Thành Châu 3 ngày, đến Đa Lợi Châu 2 ngày, đến Kỳ Phú Châu 2 ngày, đến Cam Đường 2 ngày, đến Hạ Bộ 3 ngày đến sách Lê - Vũ - Bôn 4 ngày, đến Cổ Dũng - Bộ 5 ngày. Trở lên cộng 25 ngày đều là đường thuỷ" (quyễn 1).

Theo văn bản thì dân Nam Chiếu đã trao đổi cùng người An Nam các số mặt hàng như sau; họ mua các loại hải sản, chính yếu là muối biển và vỏ sò (thứ họ dùng như một đơn vị tiền tệ để trao đổi giữa một số dân tộc ở vùng thượng du); còn họ đổi lại cho chúng ta những mặt hàng chính yếu như bò, ngựa, tơ lụa, và khí giới. Thời  nhà Lý đến thời Lê ở Việt Nam chú trọng phát triển các chợ đường biên, đồng thời dành riêng một số khu vực trên sông Hồng xây dựng thành trung tâm thương mại như vùng Bảo Thắng (Lào Cai), Tam Kỳ (vùng Bạch Hạc - Việt Trì), Trúc Hoa (vùng Phú Thọ)... Nước Nam Chiếu còn lập một cơ quan chuyên quản lý mậu dịch là “Hoà Sảng”.   Các chợ đường biên, dân hai nước trao đổi, buôn bán khá mạnh mẽ. Năm 1012, người Nam Chiếu đem hàng vạn ngựa sang buôn bán ở các huyện vùng biên. Các chợ Bảo Thắng (Lào Cai), Mạn Hảo (Mông Tự) chợ Bách Lẫm (Yên Bái)... đều trở thành trung tâm buôn bán khá sầm uất giữa hai nước. (Dựa theo cuốn Văn Hóa Nam Chiếu-Đại Lý, trang 213-214).

Theo ĐVSKTT thì năm 1096 AD (thời vua Lý Nhân Tông), có kẻ dùng lợi dụng một tù binh người Nam Chiếu dùng "phép thuật" để ám sát nhà vua nhưng kết hoạch bất thành(?)  Có văn bản cho rằng nước ta có buôn bán nô lệ cùng nước Nam Chiếu và Chiêm Thành tuy nhiên so với chính sử và nhất là sự ảnh hưởng của đạo Phật (quốc giáo) thời triều Lý thì quan niệm phản đạo đức như vậy khó mờ được pháp luật nhà Lý cho phép!  Theo suy đoán của tôi thì người Chiêm có buôn bán nô lệ nhưng người Việt trước giờ (dựa theo lịch sử) thì dân ta đã không có tập tục như thế.

Còn một số chi tiết có quan hệ đến chiến tranh giữa Nam Chiếu & An Nam (thời nhà Đường) thì chúng ta có thể đọc những khoảng đã chép như sau:
 
(Dựa theo cuốn Tự Trị Thông Giám) 
Vào năm 858 nhà Đường dùng Vương Thức làm quan Kinh lược Đô hộ sứ. Đến năm 860 nhà Đường dùng Lý Hộ làm quan Đô hộ và cũng năm này quân Nam Chiếu công hãm thành phủ, Lý Hộ bỏ chạy. Lại theo "Tư trị thông giám" thì sử này chép: Lý Hộ đến phủ liền giết viên tù trưởng Mán là Đỗ Thủ Trừng. Bộ hạ của Đỗ Thủ Trừng xúi giục quân Nam Chiếu vây đánh phủ thành. Lý hộ thua chạy về Vũ Châu. Vua Đường trách Lý Hộ về tội sát hại Thủ Trừng, lại làm mất phủ thành bèn giáng Lý Hộ làm Tư Hộ Đam Châu, sau lại lưu đày dài hạn ở Nhai Châu và Diêm Châu. Đồng thời muốn thu phục lòng dân, cốt cho yên, vua Đường mới truy tặng cho thân phụ của Thủ Trừng là Đỗ Tồn Thành chức kim ngô tướng quân.

"Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" chép: Đỗ Tồn Thành bị quan Đô hộ Lý Trác giết. Đám dân Mán oán giận, đem quân Nam Chiếu vào cướp phá. Lý Trác là một viên quan tham lam tàn bạo, hà khắc và tham nhũng. Y thường mua ép bò ngựa của người Mán, mỗi đấu muốn đổi một con bò.

Dựa theo ĐVSKTT thì chúng ta có thể chiết một số dữ kiện có liên hệ đến người Nam Chiếu & dân An Nam như sau:

Cao Biền là người  tướng giỏi nhà Đường, vốn dòng võ tướng môn, tính ham văn học, quân sĩ đều có lòng mến phục.  Năm Ất Dậu (865), Cao Biền cùng với quan Giám Quân là Lý Duy Chu đưa quân sang đóng ở Hải Môn. Nhưng Lý Duy Chu không ưa Cao Biền, muốn tìm mưu làm hại. Hai người bàn định tiến binh. Cao Biền dẫn 5.000 quân đi trước, Lý Duy Chu không phát binh tiếp ứng. Tháng chín năm ấy quân rợ đang gặt lúc ở Phong Châu (huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), Cao Biền đến đánh cất lẻn một trận, giết được nhiều người, rồi lấy thóc gạo nuôi quân lính. Đến tháng 4 năm sau (866), Nam chiếu cho bọn Dương Tập, Phạm Nê Ta, Triệu Nặc Mi sang giúp Đoàn Tù Thiên để giữ Giao Châu. Khi bấy giờ có tướng nhà Đường là Vi Trọng Tể đem 7.000 quân mới sang, Cao Biền
nhân dịp mới phát binh đánh được mấy trận, cho người đưa tin thắng trận về Kinh, nhưng mà đi đến Hải Môn, Lý Duy Chu giữ lại, không cho triều đình biết. Trong triều mãi không thấy tin tức gì, cho ra hỏi, thì Lý Duy Chu tâu dối rằng Cao Biền đóng quân ở Phong Châu không chịu đánh giặc. Vua nghe tin ấy, nổi giận sai Vương Án Quyền ra thay, và đòi Cao Biền về hỏi tội. Ngay tháng ấy Cao Biền phá quân Nam Chiếu và vây La Thành đã hơn 10 ngày rồi, chỉ nay mai thì lấy được, bỗng chốc được tin Vương Án Quyền và Lý Duy Chu sang thay. Cao Biền liền giao binh quyền cho Vi Trọng Tể, rồi cùng với mấy người thủ hạ về Bắc. Nhưng trước Cao Biền đã sai người lẻn về Kinh dâng biểu tâu rõ tình trạng. Vua nhà Đường biết rõ sự tình, mừng lắm, lại cho Cao Biền thăng trật và sai trở sang cầm quân đánh Nam Chiếu.

Bọn Vương Án Quyền và Lý Duy Chu lười biếng không vây đánh gì cả, đến khi Cao Biền trở sang mới đốc quân binh đánh thành, giết được Đoàn Tù Thiên và người thổ làm hướng đạo là Chu Cổ Đạo. Còn những động Mán Thổ ở các nơi xin về hàng rất nhiều. Đất Giao Châu bị Nam Chiếu phá hại vừa 10 năm, đến bấy giờ Cao Biền lấy lại, đem về nội thuộc nhà Đường như cũ.

Công Việc Của Cao Biền. Vua nhà Đường đổi An Nam làm Tĩnh Hải, phong cho Cao Biền làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền chỉnh đốn mọi công việc, lập đồn ải ở mạn biên thùy để phòng giữ giặc giã, làm sổ sưu thuế để chi dụng việc công20. Cao Biền trị dân có phép tắc cho nên ai cũng kính phục, bởi vậy mới gọi tôn lên là Cao Vương.Cao Biền đắp lại thành Đại La ở bờ sông Tô Lịch. Thành ấy bốn mặt dài hơn 1982 trượng linh 5 thước, cao hai trượng linh 6 thước, đắp một đường đê bao bọc ở ngoài dài hơn 2125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng rưỡi, dày 2 thượng. Trong thành cho dân sự làm nhà hơn 40 vạn nóc (?). Sử chép rằng Cao Biền dùng phép phù thủy khiến Thiên Lôi phá những thác ghềnh ở các sông để cho thuyền bè đi được. Thiên Lôi ấy có lẽ là Cao Biền dùng thuốc súng chăng?

Tục lại truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đai đế vương, thường cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp, và hại mất nhiều long mạch. Những chuyện ấy là chuyện ngoa ngôn, không có lẽ gì mà tin được. Năm Ất Vị (875) vua nhà Đường sai Cao Biền sang làm Tiết Độ Sứ ở Tây Xuyên (Tứ Xuyên). Biền dâng người cháu họ là Cao Tầm làm Tiết Độ Sứ ở giao Châu. Nhà Đường tuy lấy lại được đất Giao Châu nhưng bên Tàu lại sắp loạn, giặc cướp dần dần nổi lên, ngôi nhà vua cũng dần dần sắp đổ, nước Tàu lại chia rẽ làm mấy nước, cho nên ở xứ Giao Châu cũng có sự biến cải.

Đến năm thứ 4 (niên hiệu Hàm Thông năm Quý Vị- 863- ND) mùa xuân, tháng giêng Nam Chiếu lại đốc suất năm vạn Man binh sang đánh. Phủ thành lại bị công hãm mà viện binh thì không đến. Quân tả hửu của Thái Tập ra sức đánh. Thái Tập, mình trúng mười mũi tên, muốn xuống thuyền mà không kịp phải chết chìm dưới nước. Lúc ấy có tướng được phong tước Ngu hầu Kinh Nam là Nguyên Duy Đức bảo binh sĩ rằng: "Bọn chúng ta không có thuyền bè, xuống nước thì chết, chi bằng hãy quay trở lại phủ thành cùng với Man binh đánh nhau, mỗi một thân xác của chúng ta đổi hai mạng quân Man cũng có lợi". Rồi bèn từ phía đông cửa La Thành mà tiến vào. Quân Man không phòng bị.  guyên Duy Đức tung lính vào đánh giết hơn hai chục ngàn người. Ngày hôm sau, tướng của Man binh là Dương Tư Tấn ra đánh. Nguyên Duy Đức tử trận. Man binh nhân đó mà giết địch quân gồm mười lăm vạn. Sau đó, vua ý Tông nhà Đường cho lưu lại hai vạn người2. Các đạo binh còn lại được gọi về. lại bãi bỏ phủ Đô hộ An Nam đặt Hành Giao Châu ở Trấn Hải Môn, dùng Tống Nhung làm Thứ sử Giao Châu. Đến tháng 7 thì đặt phủ Đô hộ trở lại.

Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (năm Giáp Thân- tức 864- ND) vua Đường Ý Tông cho Quan Tổng Quản Kinh Lược sứ là Trương Ân đương luôn các việc ở An Nam. Trương Ân dừng lại, chứ không chịu tiến nhiệm. Hạ Hầu tiến cử Cao Biền đến thay Trương Ân.

Cao Biền tự là Thiên Lý cháu của Cao Sùng Văn vậy. Ở trong quân ngũ thì nhún nhường. Thích đọc sách, ưa đàm luận về người xưa. Lúc nhỏ theo giúp ông Châu Thúc Minh. Một hôm có hai con chim (diều hâu) đang bay, Cao Biền trương cung mà khấn rằng: "Nếu tôi được phú quý thì bắn trúng vậy". Rồi bắn một phát mà hai con chim đều xâu vào mũi tên. Dân chúng vô cùng kinh ngạc mới gọi Cao Biền là: "Lạc điêu thi ngự". Sau vì có công, Cao Biền được thăng làm Phòng ngự sứ Tần Châu (thuộc tỉnh Thiểm Tây bây giờ-ND). Lúc bây giờ đất đai Giao Châu đã lọt vào tay quân Nam Chiếu5 Hết cả. Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (tức năm Giáp Thân- 864 đời vua Ý Tông nhà Đường) vì Cao Biền là Kiêu vệ tướng quân6 nên được cho lãnh chức Kinh lược chiêu thảo sứ phủ Đô hộ An Nam. Nhà vua lấy hết binh tướng của Trương Ân mà ủy thác cho. Tháng 9 Cao Biền đến châu Nam Phong. Dân Man đông đến năm mươi ngàn người, đang mùa gặt lúa, Cao Biền đánh úp một trận, phá hại dữ dội rồi tiến sang đánh quân Nam Chiếu. Lại phá được quân Nam Chiếu, giết tướng ấy là Đoàn Tù Thiên và chem. binh Mường (thổ Man) hơn vạn cái thủ cấp.
---------------------------------------

Đây chỉ là một số văn kiện liên hệ đến nước Nam Chiếu mà tôi đã sao lược được; hi vọng sẽ có người tìm ra nhiều chi tiết cụ thể hơn về nước Nam Chiếu - Đại Lý, một đất nước đã tồn tại trên 500 năm rồi bị mai một sau khi bị quân Mông Cổ tiến chiếm.

Nghĩ lại, ông bà chúng ta đã hi sinh khá nhiều xương máu nên người Việt ngày nay vẫn còn một dãi đất để gọi là nước Việt Nam mà chúng ta đều có thể lấy làm hãnh diện.  Vài dòng chia sẻ và mong có sự tham luận và góp ý thêm từ các bác

caytrevietnam
Trung tá
*

Bác Bí Bếp tư liệu nhiều, kiến thức rộng khiến mọi người rất phục. Nhân bài về Nam Chiếu của bác, em có vài thắc mắc mong bác chỉ bảo thêm

- - - - - -- - - - -
Nam Chiếu và Đại Lý là sự kế tục liên tiếp nhau hay là giống kiểu Phù Nam và Chân Lạp ?

Từ "Chiếu" có nghĩa là gì ạ? và nước Nam Chiếu thực sự bắt đầu xuất hiện từ năm nào? 
+ Nếu theo chú thích trong Lịch sử VN tập 1 của Uỷ ban khoa học xã hội VN xuất bản năm 1971 thì: "Địa bàn cư trú của Nam CHiếu ở miền tây và tây bắc tỉnh Vân Nam, trung tâm là Đại Lý (Côn Minh). Chiếu là tên gọi thủ lĩnh người dân tộc. Cả thảy có 6 chiếu, tức 6 bộ lạc lớn. CHiếu Mông Xá ở phía Nam nên gọi là Nam Chiếu. Nửa đầu TKỷ VIII Nam Chiếu cường thịnh chiếm đất của 5 chiếu kia, dựng thành 1 nước lớn, dần hàng phục được nước Phiếu (Miến Điện), phát triển về phía Tây tới giáp Ấn Độ, tây bắc giáp Thổ Phồn (Tây Tạng), phía nam giáp miền Tây bắc nước ta" 

+ Trong lịch sử VN tập 1 của Đại học sư phạm, xuât bản năm 1980 thì viết: "Bấy giờ người Tày sống ở Vân Nam và Tây bắc nước ta rải rác khá đông. Họ tụ tập thành 6 bộ lạc lớn, đứng đầu là quân trưởng thường gọi là chiếu. Sáu chiếu đó là: Mông Tuấn, Việt Tích, Lãng Khung, Đằng Đạm, Phi Lãng và Mông Xá. Chiếu Mông Xá ở phía nam nên còn gọi là Nam Chiếu
Vào cuối đời Khai Nguyên nhà Đuờng (713-741) Nam Chiếu dưới quyền cai trị của quân trưởng Bì La Cáp hùng mạnh lên, trong khi 5 chiếu kia suy yếu đi. Bì La Cáp bèn lấy của cải đút lót cho tiết độ sứ Kiếm Nam là Vương Dực xin hợp các chjiếu khác làm 1. Được sự giúp đỡ của Vương Dực, Nam CHiếu thống nhất 6 chiếu thành 1 nước lớn, được nhà Đường đặt tên là Quy Nghĩa. Bì La Cáp xin thần phục nhà Đường nên được vua Đường phong làm Vân Nam vương. Kinh đô Nam chiếu đóng ở thành Đại Hòa (gần Côn Minh). Khi loạn An Sử bùng nổ, nhà Đường suy yếu, con Bì La Cáp đem quân chinh phục các bộ lạc xung quanh, hùng cứ cả vùng tây nam Trung Quốc"

Thế nhưng nếu theo sách Tân đính Lĩnh Nam chích quái thì có đoạn nói từ thời Ngô Tôn Quyền, Nam Chiếu đã hùng cứ, quân Ngô bất lực ko làm gì được

Lãnh thổ Nam chiếu cụ thể tương ứng với những khu vực nào hiện nay?, ngoài bản đồ ở trên, bác có bản đồ nào rõ hơn biên giới giữa Đại Việt và Nam Chiếu ko?

Thường thì đa số nói Nam CHiếu ở vùng Vân Nam ngày nay, nhưng sách Tân đính Lĩnh Nam chích quái thì Nam Chiếu chính là hậu duệ của Triệu Đà, cuối đời Tấn có 2 tù trưởng là Triệu Ông và Triệu Dịch dẫn quân chiếm được nước Tây Bà Dạ (nay thuộc vùng Quỳ Châu-Nghệ An), chia làm 2 miền là Qùy Châu và Diễn Châu, đắp thành, dựng miếu ở Bảo Chướng (nay thuộc Cao Xá, Diễn Châu). Tướng nhà Tấn là Tào Nhĩ đánh dẹp nhưng ko được.

Cũng trong sách Tân đính này, ở phần chú thích cho biết: Chiếu nghĩa đen là lệnh của vua ban xuống, ở đây nói bóng là Mật lệnh của Vũ vương Triệu Đà trong di chúc để lại cho con chaú tìm cách khôi phục quyền uy. Như vậy "chiếu" ở đây ngầm được coi là "người kế tục" họ Triệu...Chiếu Mông XÁ đứng đầu 6 chiếu nhưng đóng căn cứ ở cuối, vùng cực nam giáp giới đèo Ngang, còn các chiếu khác rải dài theo miền núi từ Vân Nam đến tây Thanh, Nghệ và theo miền biển trên các hải đảo đến cửa Nhượng, cửa Khẩu (Hà Tinh ngày nay)

Chính xác tên các chiếu hợp thành Nam chiếu là gì ? 
+ Sáu chiếu là: Mông Tuấn, Việt Tích, Lãng Khung, Đằng Đạm, Phi Lãng và Mông Xá (Nam Chiếu)_ (lịch sử VN tập 1, Đại học sư phạm, xuât bản năm 1980) 
+ Sáu chiếu theo sách Tân đính Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh): Mông Xá (Nam Chiếu), Mông Huề, Việt Tích, Lãng Khung, Đặng Anh, Thi Lãng

Ngoài tên gọi Nam Chiếu, Đại Lý thì quốc gia này còn tên nào khác ko ?
Vì trong sách Tân đính viết: "Trước kia Nam Chiếu còn thịnh, đổi quốc hiệu là Đại Đắc, sau xét ko hay đổi là Lão Qua rồi lại đổi là Đại Lý. Lúc đó, thời Lê Thánh Tông lại đổi là Đại Man". 
Còn ở chú thích có đoạn: " Nam Chiếu xuất hiện ngay sau khi quân của Lữ Gia tan rã, lúc đầu có căn cứ mạnh, nhất là ở vùng Vân Nam, Quảng Tây, vùng Lào, tây Thanh, Nghệ...Thời Ngũ Đại, Đoàn Tử Bình chiếm đất cũ, thành cũ của Nam Chiếu ở Vân Nam, mới đổi là Đại Lý, ko rõ có liên quan gì với tên Triệu Ông Lý, vua đầu tiên của Nam CHiếu, vốn dòng dõi Triệu Đà hay ko? Đến đời thời Lê Thánh Tông ở ta, Đại Lý lại đổi là Đại Man, trước đó nhà Tống gọi họ là Hậu Lý quốc, nay vẫn còn di tích thành ở Vân Nam, còn những nơi căn cứ phía nam như Nam Thành (Thành Nam ở Con Cuông, Nghệ An), Đông Thành (Thành Đông ở Diễn Châu, Nghệ An) đã tàn lụi"

Trong sách Tàu có ghi lại những trận đánh giữa Việt và CHiếu ko bác ?

Nếu tính từ năm 938 thì Đại Việt và Nam Chiếu/Đại Lý ít xảy ra chiến tranh. Theo 1 số sách như ĐVSKTT:  Cuối năm Nhâm Tý (1012) Lý Thái Tổ nghe tin báo người Nam Chiếu xâm nhập châu Vị Long (nay thuộc Cao Bằng) bèn sai quân đi đánh, bắt được rất nhiều người và hơn 1 vạn con ngựa. Tháng giêng năm Giáp Dần (1014) 20 vạn quân Nam Chiếu tràn vào châu Bình Lâm (nay là Cao Bằng), “vua sai Dực Thánh vương đem quân đi đánh, chém được hơn 1 vạn đầu, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết”. Từ đó Nam CHiếu ko dám quấy nhiễu nữa
Sách Tân Đính thì cho biết thêm là đến đời Lê Thánh Tông, con cháu Nam CHiếu mới lại nổi lên quấy phá vùng Trà Lung (nay thuộc Nghê An) vua sai quân đánh tan, chiếm thêm 1 số đất lập ra phủ Trấn Ninh 
=========
Có 1 đoạn này trong bài của bác ko chính xác lắm : " Theo ĐVSKTT thì năm 1096 AD (thời vua Lý Nhân Tông), có kẻ dùng lợi dụng một tù binh người Nam Chiếu dùng "phép thuật" để ám sát nhà vua nhưng kết hoạch bất thành(?) "
Không phải là lợi dụng tù binh Nam CHiếu để định giết vua ma theo sách sử chép, chính Lê Văn Thịnh trực tiếp "hóa hổ". Vấn đề vụ án hồ Dâm Đàm có nhiều tư liệu nói rồi, ở đây em xin ko nhắc lại. Riêng vụ học phép hóa hổ thì có giai thoại dân gian nói gia nô của nhà Lê Văn Thịnh là người Đại Lý có phép hóa hổ, hồi bé ông Thịnh hay nghịch phá hoặc mỗi khi khóc quấy là người gia nô lại hóa hổ để dọa. Sau đó lớn lên, ông Thịnh có nài xin dạy, chính vì thế 1 lần mẹ ông vào phòng ban đêm xem con học thế nào đã ngất xỉu khi thấy trong màn có 1 con hổ trắng đang đọc sách



Trích dẫn
Nam Chiếu và Đại Lý là sự kế tục liên tiếp nhau hay là giống kiểu Phù Nam và Chân Lạp?

Nam Chiếu & Đại Lý là một nước đã được tiếp nối với nhau (Nam Chiếu đã bị lật đổ từ năm 902... và cả vùng bị sa loạn sứ quân...cũng giống như tình trạng chung ở cả Trung Hoa cùng thời... và sau 25 năm Đoàn Tư Bình đã thống nhất được các sứ quân mà thiết lập nước Đại Lý vào năm 937 AD... cũng tương đương với mốc điểm mà dân ta dành được độc lập từ quân Nam Hán ở miền bắc, VN hiện giờ).


Trích dẫn
- Lãnh thổ Nam chiếu cụ thể tương ứng với những khu vực nào hiện nay?, ngoài bản đồ ở trên, bác có bản đồ nào rõ hơn biên giới giữa Đại Việt và Nam Chiếu ko?
Thường thì đa số nói Nam Chiếu ở vùng Vân Nam ngày nay, nhưng sách Tân đính Lĩnh Nam chích quái thì Nam Chiếu chính là hậu duệ của Triệu Đà, cuối đời Tấn có 2 tù trưởng là Triệu Ông và Triệu Dịch dẫn quân chiếm được nước Tây Bà Dạ (nay thuộc vùng Quỳ Châu-Nghệ An), chia làm 2 miền là Qùy Châu và Diễn Châu, đắp thành, dựng miếu ở Bảo Chướng (nay thuộc Cao Xá, Diễn Châu). Tướng nhà Tấn là Tào Nhĩ đánh dẹp nhưng ko được.

Cũng trong sách Tân đính này, ở phần chú thích cho biết: Chiếu nghĩa đen là lệnh của vua ban xuống, ở đây nói bóng là Mật lệnh của Vũ vương Triệu Đà trong di chúc để lại cho con chaú tìm cách khôi phục quyền uy. Như vậy "chiếu" ở đây ngầm được coi là "người kế tục" họ Triệu...Chiếu Mông XÁ đứng đầu 6 chiếu nhưng đóng căn cứ ở cuối, vùng cực nam giáp giới đèo Ngang, còn các chiếu khác rải dài theo miền núi từ Vân Nam đến tây Thanh, Nghệ và theo miền biển trên các hải đảo đến cửa Nhượng, cửa Khẩu (Hà Tinh ngày nay)

Tấm bản đồ chi tiết của Đại Đường (bao gồm An Nam)


Đây là một tấm bản đồ khác rõ hơn (nguồn từ University of Washington). 

Chúng ta có thể thấy nước Thổ Phồn (Tây Tạng) hùng cứ một phần khá lớn ở mạn Tây Bắc của Đại Đường và vương quốc Nam Chiếu chiếm một khoảng nhỏ hơn bao trùm khu vực Vân Nam chạy xuống đến mạn tây bắc của miền bắc, VN & Lào hiện giờ;  Khoảng thập niên 860 AD, là thời cực thịnh của vương quốc Nam Chiếu cũng là thời suy đồi của Đại Đường sau loạn An Lộc Sơn, nước Nam Chiếu đã chiếm đóng cả một địa bàn rộng lớn ngay cả khu vực Thành Đô của Tứ Xuyên, bao trọn An Nam (miền bắc xứ ta) và một phần của cả nước Miến Điện hiện giờ. 


Riêng bộ Lĩnh Nam Chích Quái có viết về Nam Chiếu như sau:

Trích dẫn
Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà vậy. Thời Hán Vũ Đế, thừa tướng nước Nam Việt là Lữ Gia không phục, giết sứ Hán là bọn An quốc, Thiếu Quý. Hán Vũ Đế sai tướng là bọn Lộ Bác Đức, Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước, phân đất cho các quan cai trị. Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn là những xứ vắng vẻ không có người. 

Khi bộ hạ đông đúc, họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu, cho nên họ mang danh hiệu ấy. Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, ạ Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi. Đồ đảng của chúng khá nhiều, hay đem hàng hóa châu ngọc đút lót cho nước Tây Bà Dạ cầu làm thân thuộc, cùng giúp đỡ nhau. Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều phục, cùng với quân Nam Chiếu hợp lại, được hơn hai vạn người, lại đem châu ngọc tiến nước Tây Bà Dạ, xin chỗ đất không ngay cạnh đó để ở. Khi ấy, Tây Bà Dạ quốc chia đều bãi bể và đồng nội ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Gia Viễn, giết trâu ăn thề rồi giao cho nước Nam Chiếu và Triệu ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông tới Giáp Hải, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa. Nhà Đông Tấn sai tướng quân là Tào Nhĩ đem quân sang đánh, ông Lý phục tượng binh ở chỗ hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở Mê Sơn và Mạt Sơn ngoài bể, địch tụ thì mình tán, địch tán thì mình tụ, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời. Quân Tấn không chịu nổi khí núi, tử vong quá nửa, bèn rút quân về. Quân Nam Chiếu thường tới cướp các xứ Nam Thành, Đông Thành, Trường An, thú lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về. Tới đời Ngũ Đại, vua Tấn là Thạch Kinh Đường sai quan tư mã họ Lý đem 20 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về ở nhờ tại biên giới Ai Lao, hiệu là Đầu Hoành Mô Quốc Bồn Mang, thường lấy sự cướp bóc làm nghề, lúc đánh lúc nghỉ, chưa hề bao giờ yên chiến sự. Đất đó nay là phủ Trấn Ninh, muôn đời sát nhập trong bản đồ nước Đại Việt.


Thực tế thì chúng ta khó trích hoặc những cốt truyện từ bộ Lĩnh Nam Chích Quái để làm tài liệu cho sử được vì những cốt truyện bao gồm cả những "huyền thoại" lẫn một số dữ kiện và tên địa danh hoặc tên người có liên quan đến sử lược.  Thế nên Bí Bếp chỉ trích ra để chúng ta đọc lại hầu hiểu rõ hơn chứ thảo sâu xa hơn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. 

Trích dẫn
Ngoài tên gọi Nam Chiếu, Đại Lý thì quốc gia này còn tên nào khác ko?

Có thêm tên "Ai Lao" nữa (người Lào cũng cho họ là hậu duệ của Nam Chiếu đó). 

Trích dẫn
- Trong sách Tàu có ghi lại những trận đánh giữa Việt và Chiếu ko bác ?

Thời có nước Nam Chiếu (739 - 902 AD) thì Đại Việt chưa có thì làm sao đánh đấm nhau được hén.  Nam Chiếu đụng trận với Đại Đường hoặc Thổ Phồn (Tây Tạng) thì có... (những trận đánh giữa Nam Chiếu & Đại Đường ở miền Bắc VN) thì Bí Bếp có trích ở hai bài đầu rồi. 


Trích dẫn
Có 1 đoạn này trong bài của bác ko chính xác lắm : " Theo ĐVSKTT thì năm 1096 AD (thời vua Lý Nhân Tông), có kẻ dùng lợi dụng một tù binh người Nam Chiếu dùng "phép thuật" để ám sát nhà vua nhưng kết hoạch bất thành(?) "
Không phải là lợi dụng tù binh Nam CHiếu để định giết vua ma theo sách sử chép, chính Lê Văn Thịnh trực tiếp "hóa hổ". Vấn đề vụ án hồ Dâm Đàm có nhiều tư liệu nói rồi, ở đây em xin ko nhắc lại. Riêng vụ học phép hóa hổ thì có giai thoại dân gian nói gia nô của nhà Lê Văn Thịnh là người Đại Lý có phép hóa hổ, hồi bé ông Thịnh hay nghịch phá hoặc mỗi khi khóc quấy là người gia nô lại hóa hổ để dọa. Sau đó lớn lên, ông Thịnh có nài xin dạy, chính vì thế 1 lần mẹ ông vào phòng ban đêm xem con học thế nào đã ngất xỉu khi thấy trong màn có 1 con hổ trắng đang đọc sách 


Vâng, đó là điều mà Bí Bếp không có ý bàn sâu, tán xa mà cho nó vào "ngoặc kép" vì hình thức "mê tín dị đoan" và "phản khoa học"... khi mình viết về sử. 
Comments