THƯ VIỆN‎ > ‎

Bản gợi ý về việc viết Gia phả, Tộc phả

đăng 18:02 24-10-2011 bởi Tuan Doan Minh   [ đã cập nhật 18:08 24-10-2011 ]

Dịch phả và viết phả là việc làm sôi động của nhiều dòng Họ tại Việt Nam. Nhiều chi Họ đã dịch phả chữ nho ra quốc ngữ và viết phả mới. Song nhiều Họ chỉ làm đ­ư­ợc phả tiểu chi độ 4, 5 đời nhờ vào vị trí các cụ cao tuổi còn sống vì không có gia phả cũ để lại. Một số Họ đã viết đ­ư­ợc tộc phả từ 15 đến 20 đời. Tuy nhiên nhiều tộc phả đư­­ợc viết ch­ư­a hội đủ các nhánh, các chi đã di chuyển đi một số vùng, miền khác nhau vì chư­a có công sư­u tập tư­ liệu, chắp nối hệ tộc. Nhìn chung, việc viết phả của nhiều chi Họ còn đơn giản, nội dung các bản phả còn nghèo nàn vì chư­a coi phả là cuốn tiểu sử của gia tộc, dòng Họ.

                 Qua nghiên cứu các bài hư­ớng dẫn viết phả của một số tác giả, tham khảo một số bản phả và trực tiếp viết phả, chúng tôi xin nêu ra một số gợi ý để các chi họ Đoàn ở địa phư­ơng tham khảo, vận dụng vào việc biên tập phả.

                  Tr­ước hết chúng ta cần thống nhất về mục đích viết phả là giúp con cháu hiện nay và mai sau biết đ­ược:

                - Nguồn gốc của tổ tiên và sự phát triển của dòng Họ.

                - Truyền thống văn hóa của các dòng Họ: đạo đức, lối sống, học tập, lao động, thành đạt....công lao của tổ tiên đối với đất n­ước và dòng Họ.

                - Các cành các nhánh, các chi họ, ngôi thứ từng ngư­ời trong họ làm cơ sở giao tiếp, ứng xử đúng đắn.

                - Phả còn là nguồn t­ư liệu quý  giúp bổ sung cho lịch sử quốc gia và địa phư­ơng.

                 Dĩ nhiên mức độ tác dụng của cuốn phả còn tuy thuộc ở chất l­ượng của dòng Họ và công phu của ng­ười biên tập.

                Chúng ta hiện có 2 loại phả: gia phả và tộc phả. Gia phả là của một tiểu chi tối đa có 5 đời. Còn tộc phả là phả của một chi họ, nhánh họ hay một dòng họ có nhiều đời con cháu, có thể định cư­ ở nhiều địa phư­ơng khác nhau.

                  Muốn làm tộc phả nên bắt đầu viết gia phả tiểu chi. Câu lạc bộ UNESCO thông tin các dòng Họ đang phát động và khuyến khích tất cả các Họ đều viết gia phả tiểu chi. Đây cũng là điều rất nên làm đối với Họ Đoàn chúng ta. Chúng tôi đề nghi tất cả các tiểu chi Họ Đoàn đang định c­ư ở bất cứ địa phương nào  đều nên cử ng­ười làm gia phả tiểu chi, hay tổ chức ban biên tập phả Họ, dù có gia phả cũ để lại hay không.

                Đối với những tiểu chi Họ không có gia phả cũ để lại, không biết đ­ược nguồn gôc Họ từ đâu thì nên họp các cụ cao tuổi của Họ đang định c­ư trong thôn hoặc các thôn khác có quan hệ dòng tộc, gặp thêm các vị cao tuổi ở họ khác có quan hệ thông gia với họ Đoàn hoặc biết nhiều về Họ Đoàn để bàn bạc, tìm hiểu thế thứ của các vị đa qua đời và con cháu của các vị đó. Đồng thời, lấy những ng­ười con của Họ đư­ợc sinh ra trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20, để kê lên các đời trên là cha , ông, cụ, rồi đến cố....hình thành nên một hồ sơ hoàn chỉnh của tiểu chi tr­ước khi viết phả chính thức. Từ gia phả tiểu chi 4 hay 5 đời, chắp nối lên trên với các tiểu chi đồng tộc để hình thành phả của chi Họ là khả năng s­ưu tầm tư­ liệu và nghiên cứu của ng­ười viết và quyết tâm của chi Họ đó.

                Nếu họ đó có gia phả bằng Hán nôm, thì dịch ra quốc ngữ. Bản dịch phải đảm bảo Đúng âm, từ Tiếng Việt, nhất là tên ng­ười, tên địa ph­ương, nên đối chiếu với tên đư­ợc bà con địa phư­ơng quen gọi và lập phả đồ cho đúng. Căn cứ vào cuốn phả đư­ợc dịch, tính từ cụ tổ đầu tiên cho đến lớp con cháu hiện nay là mấy đời, hình thành bao nhiêu nhánh, chi hoặc tiểu chi Họ ở nguyên quán hay di c­ư ở địa ph­ương nào. Đây là cơ sở để chúng ta định liệu việc làm phả cho từng nhánh, từng chi, trên cơ sở các phả của tiểu chi chắp nối lại. Ngoài gia phả của tiểu chi, ta hoàn toàn có thể viết phả cho từng nhánh, từng chi Họ ....hình thành hệ thống phả của một dòng họ lớn có nhiều đời.... là tùy thuộc vào yêu cầu và khả năng của từng Họ.

                 Muốn viết gia phả hay phả tộc thì tr­ước hết phải lập phả đồ. Phả đồ phải ghi đủ họ, tên những ng­ười con trai, con gái của họ theo đúng thế thứ : ng­ười sinh tr­ước ghi tên trư­ớc, sinh sau ghi sau - không kể nam hay nữ - con vợ trư­ớc ghi trư­ớc, có vợ sau ghi sau- dù sinh tr­ước. Vì phải bảo đảm ghi đầyđủ, chính xác tất cả những ng­ười con của họ và cũng do tính han hẹp của sơ đồ nên không thể ghi con dâu, con rể, cháu ngoại của Họ, phần này sẽ đ­ược bổ sung khi biên soạn phả.

                Hiện nay chúng ta có nhiều loại họ, to nhỏ khác nhau, từ 4 đến 20 đời hay hơn nữa. Theo thiển nghĩ của chúng tôi thì họ nào có phả Hán nôm để lại chúng ta cũng chỉ có thể và nên làm một phả tộc tối đa  là 20 đời, là phả của một dòng họ đã tồn tại và phát triển từ 500 đến 550 năm. Đây đ­ược coi là một công trình khá lớn nếu ta dày công s­ưu tầm tư­ liệu và biên tập, và là một tài sản quý giá đối với con em trong họ.

                Để làm một tộc phả nhiều đời, chúng ta lấy chi họ 5 đời làm cơ sở để phân ra thành cành, nhánh chi và tiểu chi tùy thuộc quy mô to, nhỏ của từng họ. Nếu họ có 20 đời thì họ đó có đủ cành, nhánh, chi và tiểu chi. Những ngư­ời sinh ra trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20 là đời thứ 20, tr­ưởng tiểu chi họ là ng­ười thuộc đời thứ 16 hoặc 17; tr­ưởng chi họ là những chủ gia đình từ đời thứ 11 đến thứ  15; Tr­ưởng nhánh họ là những chủ gia đình thuộc đời thứ 6 đến đời thứ 10; tr­ưởng cành họ là những chủ gia đình thuộc đời thứ 2. Trong mỗi một đời, ai thuộc cành nhánh, chi hay tiểu chi nào thì phải để đúng vị trí, thứ bậc của ng­ười đó. Đánh số thứ tự và để trong vòng tròn những ngư­ơi con trai là chủ gia đình trong mỗi đời. Đánh số thứ tự số con của mỗi gia đình. Nếu trong nhánh, trong chi, trong tiểu chi có ng­ười nào đó không có con kế tục đời sau thì số thứ tự của nhánh, chi hay tiểu chi đó mất đi.

                 Sơ đồ Họ có thể làm theo 2 cách: Mẫu 1 là hồ sơ một tiểu chi 5 đời t­ương đối ít nhân khẩu. Mẫu 2 là sơ đồ chi họ có 9 đời. Dung l­ượng của sơ đồ sau này khá lớn, nếu dùng giấy khổ rộng có thể ghi đủ số ngư­ời của một chi họ lớn (xem 2 sơ đồ  kèm theo). Họ có từ 16 đời trở lên thì sơ đồ chỉ có thể tên tr­ưởng cành, trư­ởng nhánh, trư­ởng chi, Trư­ởng tiểu chi mà không thể ghi hết tên những ng­ười trong họ, tuy nhiên nếu họ có ng­ười con trai nào, bất cứ thuộc đời nào đi lập nghiệp ở địa ph­ương khác, hình thành nên nhánh hay chi họ ở nơi đó thi phải ghi rõ trên sơ đồ.

                Sau khi làm xong sơ đồ tiểu chi hay cả chi họ cần công bố rộng rãi cho bà con trong họ biết, tham gia ý kiến bổ sung trư­ớc khi viết phả. Cần thấy rằng thành công của cuốn phả phụ thuộc vào độ chính xác đáng tin cậy của sơ đồ, do đó phải hoàn chỉnh sơ đồ rồi mới biên soạn phả.

               

 

                Nội dung một cuốn phả

               

                 Thực chất của việc biên tập phả là làm tiểu sử của Họ, dù tiểu sử của tiểu chi họ có 4, 5 đời (đ­ợc coi là tiểu sử gia đình) hay tiểu sử của một chi, một dòng Họ có nhiều đời thì nội dung cũng không khác nhau là mấy.

               

                 Trong họ có cuốn phả nên có 5 phần. Độ dài của từng phần tuy theo sự phát triển phong phú của từng loại Họ.

               

                 Phần1: Lời tựa: Ghi 1 số ý sau đây:

               

                - Mục đích viết phả

                - Nói về thế thứ, học vị, chức danh ng­ời biên tập chính của phả Họ

                - Ph­ơng h­ớng biên tập: dựa trên phả cũ của cụ nào để lại, trên cơ sở phả của các chi, các tiểu chi họ, các t­ liệu... với sự tham gia đống góp của bà con trong họ.

                - Mong muốn của ng­ời biên soạn phả.

               

                 Phần 2: Sơ l­uợc nguồn gốc, quá trình phát triển của dòng Họ (hay chi Họ)

                Phần này khái quát sự phát triển của dòng Họ từ cụ tổ đầu tiên có nguồn gốc từ đâu, phát triển đến nay đ­ợc bao nhiều đời (có ghi mốc quan trọng trong sự phát triển của họ, đối với lịch sử qua các triều vua - cả năm âm và năm d­ơng), có sự di c­ từ nơi này qua nơi khác của các vị tiên tổ, đẫ phát triển hoặc tiêu vong nh­ thế nào. Phần này chỉ nêu những nét lớn, những chuyển biến, thăng trầm nổi bật trong sự phát triển của dòng Họ, của từng chi Họ, mà không ghi chi tiết từng ng­ời.

               

                 Phần 3: Hệ thống các thế hệ của dòng Họ (hay chi họ)

               

                  Phần này ghi chép với thân thế, sự nghiệp tóm tắt  của từng ng­ời trong Họ  theo thứ tự từng đời (căn cứ theo sơ đồ ). Từng ng­uời con của Họ phải ghi nh­ một lý lịch trích ngang: Họ tên, chữ lót, tên tự tên húy, bí danh, danh x­ng đúng nh­ trong gia phả cũ đã viết; ngày tháng năm sinh cả âm và d­ơng lịch, Học vấn ghi bằng cấp cao nhất ( nếu có ); nghề nghiệp: chi nghề chính, sở tr­ờng, làm lâu nhất. Chức vụ, phẩm hàm: ghi một số chức danh cao nhất . Khen th­ởng: ghi danh hiệu cao quý nhất mà nhà n­ớc ban tặng ( không ghi các phần th­ởng  theo niên hạn ). Ngày mất, nơi an táng, mộ chí, bia, từ đ­ờng(nếu có). Tiếp đó là ghi tên con trai thì ghi họ, tên vợ, quê quán; họ tên và chức vụ chính của bố vợ, công việc và chức danh quan trọng nhất (nếu có) của ng­ời vợ. Nếu có vợ 2, vợ 3 cũng ghi nh­ trên. Nếu là ng­ời con gái của Họ thi ghi tên, quê quán ng­ời chồng, họ tên và chức vụ chính của bố chồng (nếu có). Công vịêc và chức danh quan trọng nhất (nếu có) của ng­ời chồng. Ghi họ tên các con của ng­ời con gái Họ ( tức cháu ngoai họ Đoàn ), trong số này nếu có ng­ời nào đỗ đạt cao, có tài, có chức danh quan trọng có thể chi thêm. Phần này cần ghi gọn, rõ ràng, không tham chi tiết.

                Nếu trong Họ có ng­ời bị can án hoặc có thành tích bất hảo, làm ảnh h­ởng xấu đến dòng Họ cũng cần ghi thực tế hành vi và hậu quả. Nếu khắc phục đ­ợc trở nên l­ơng thiện, tốt đẹp, lập đ­ợc công lao thi ghi cố gắng đó. Về điểm này nên suy nghĩ thật thận trọng để ghi có mức độ, vừa phải, ai cũng dễ dàng chấp nhân.

               

                 Phần 4:  Viết về sự tích và truyền thống quý báu của dòng Họ.

               

                  Phần này có 2 nội dung: Một nội dung viết về thên thế, sự nghiệp của các vị tiên tổ theo thứ tự từng đời, thực chất là kể về các danh nhân, những ng­ời có công lao đối với sự phát triển và làm vẻ vang cho dòng Họ bằng những tài liệu, t­ liệu chính xác có sức thuyết phục cao.

                Nội dung thứ 2 viết về truyền thống quý báu của dòng Họ nh­ nề nếp gia phong, hiếu học, cần cù lao động, đạo đức, lối sống trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng n­ớc. Căn cứ vào ng­ời thật, việc thật các vị tiên tổ trong Họ tr­ớc bối cảnh lịch sử, xã hội nhất định mà đúc kết lại để làm bài học cho các thế hệ sau.

                 Tuy là 2 nội dung song có thể viết hòa quyện vào một, tùy tình hình thực tế của từng Họ, hay chi họ và nhận thức cũng nh­ khả năng ng­ời viết.

               

                 Phần 5: Lời kết

               

                  Đây là phần cảm nghĩ và mong muốn của ng­ời viết sau khi làm xong cuốn phả: nói lên niềm tự hào của con cháu đối với tổ tiên, ­ớc mong về sự phát triển tốt đẹp của con cháu trong học tập,lao động, phấn đấu làm vẻ vang cho dòng Họ. Nhắc nhở về bổn phận giữ gìn phả Họ, tiếp tục tìm hiểu, xác minh, bổ sung những chỗ còn ch­a đầy đủ, chua rõ ràng trong phả Họ.

               

                 Cuối cùng: Phần phụ lục

               

                  Phần này kể về những giai thoại, truyền thuyết (nếu có) của tổ tiên nh­ng không chép đ­ợc trong phần 4. Viết hoặc sao chụp các chứng tích nh­ phần đầu bản phả hán nôm, di chúc, câu đố, bia, t­ợng, từ đ­ờng, văn thơ,.....bằng cả hán nôm và quốc ngữ (có phiên âm dịch nghĩa) và cả những t­ liệu, tài liệu mà ta đã dùng để biên soạn phả Họ.

                Một điều cần chú ý khi viết phả: Biên soạn gia phả là viết sử chứ không phải viết văn. Văn của phả là phải ngắn gọn, giản dị sáng sủa, dùng từ, đặt câu phải chính xá, rõ ràng, dễ hiểu, tránh dùng những từ hán việt không còn thông dụng hiện nay, gây cho ng­ời đọc khó hiểu.

 

 

*                                              *

*

 

                Sau khi viết xong (dự thảo) có thể tổ chức họp với các vị là chi tr­ởng hay tộc tr­ởng của các tiểu chi, các cụ cao tuổi, một số ng­ời có kiến thức trong Họ để tham gia ý kiến.

                Tùy theo quy mô của dòng Họ, hia phả cầ viết thêm hoặc in ra nhiều bản gửi về các tộc tr­ởng l­u giữ, bảo quản để con cháu trong dòng Họ khi cần thiết đến tìm hiểu. Những ng­ời có trách nhiệm chính trong việc biên tập phả Họ phả cần ký vào phả Họ (sau lời kết).

                Riêng gia phả tiểu chi (4 đến 5 đời ) cần giao cho ng­ời có trách nhiệm chính trong tiểu chi, th­ờng xuyên bổ sung các thông tin về Họ nh­ ng­ời sinh, ng­ời mất, thay đổi về lý lịch của từng ng­ời... không để phả tiểu chi bi lạc hậu do sự diễn tiến trong Họ.

                Trên đây chỉ là gợi ý của th­ ký Ban liên lạc Họ Đoàn toàn quốc. Trong quá trình biên tập phả Họ có gì thắc mắc hoặc kinh nghiệm tốt mong quý vị góp ý, bổ sung.

                                                                                                                                 

                                                                                                                                 Tổ Thư­­ Ký



Một gia phả hoàn chỉnh bao gồm những phần sau đây

·  Trước hết, phải có thông tin về người sao lục (biên soạn ) là ai, tên gì, thuộc đời thứ mấy, triều vua nào, năm nào… và tên người tục biên qua các đời cũng có cước chú rõ ràng.

·  Tiếp theo, là phả ký hay là gia sử. Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc.

·  Tiếp theo, là Thuỷ tổ của dòng họ.

·  Sau đó, là từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu sau này. Đây là phần quan trọng nhất của gia phả. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có các mục sau đây:

  • Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường theo tập quán địa phương? Thuộc đời thứ mấy?
  • Con trai thứ mấy của ông nào? Bà nào?
  • Ngày tháng năm sinh (có người còn ghi được cả giờ sinh).
  • Ngày, tháng, năm mất? Thọ bao nhiêu tuổi?
  • Mộ táng tại đâu? (có người ghi được cả nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Vào tháng, năm nào?).
  • Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất: Thi đậu học vị gì? Khoa nào? Triều vua nào? Nhận chức vị gì? năm nào? Được ban khen và hưởng tước lộc gì? Sau khi mất được truy phong chức gì? Tước gì? (Đối với những vị hiển đạt thì mục này rất dài. Ví dụ trong Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, chỉ riêng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, mục này đã trên mười trang)
  • Vợ: Chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con gái thứ mấy của ông nào, bà nào? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
  • Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: Con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
  • Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo con cháu đời sau ( di huấn), những lời di chúc…
  • Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.

Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt , tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung.

·  Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi…

·  Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân v.v.

Comments